|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ TĨNH Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 21-10-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nữ - Giáo viên
Ông Bùi Quang Huân – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/HS-ST ngày 03/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 11/9/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/HSST-QĐ, ngày 30/9/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Xuân T; Sinh ngày 22 tháng 3 năm 2003 tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh);Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H và bà Nguyễn Thị C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 15/11/2024, bị Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146/QĐ-XPHC về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Nhân thân: Ngày 18/9/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2020/HS-ST (khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi); đã chấp hành xong bản án; Ngày 21/12/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2021/HS-ST; đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích; Tại bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2- thành phố H xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Xuân T bị tạm giam kể từ ngày 22/02/2025, hiện đang chấp hành án tại Trại giam N – Bộ C4 (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T: Ông Lê Văn Q - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Họ và tên: Hoàng Quốc P; Sinh ngày 20 tháng 9 năm 2008 (Đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 03 tháng 16 ngày), tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh); Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: H (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2- thành phố H xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Hoàng Quốc P hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an H5 (có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Quốc P: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967, nghề nghiệp: Làm ruộng, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Quốc P: Ông Võ Quốc H1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).
- Người bị hại:
- + Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: kỷ sư xây dựng; Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường T, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Anh Đậu Bá T2, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn H, xã C, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Thăng L, sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Buôn bán; Địa chỉ: Thôn B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Doãn C1, sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Công nhân; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Chị Trần Thị H2, sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Tiến Â, sinh ngày 20/02/2010; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Tiến Â: Bà Hoàng Thị C2, sinh năm 1967; Nghề nghiệp: Lao động tự do và ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1965; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
- + Bà Trương Thị T4, sinh năm 1969 Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Chị Trần Thị T5, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1995; Nghề nghiệp: Mua bán xe máy cũ; Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do: Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Viết H3, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn V, xã T, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1978, Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 07/01/2025 đến ngày 18/01/2025, Nguyễn Xuân T, Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 06/01/2025, Nguyễn Xuân T rủ Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đi trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Nguyễn Xuân T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 38K1-27003 của bà Nguyễn Thị C (sinh năm 1969, trú tại: Tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh - nay là Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh - là mẹ của T), chở P và  đi từ nhà mình theo dọc đường Q hướng ra B để trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 07/01/2025, khi đi đến số nhà B, đường H thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là tổ dân phố A, xã C, tỉnh Hà Tĩnh), Nguyễn Xuân T nhìn thấy nhà này đang xây, phía dưới gốc cây trước nhà có để các tấm cốt pha của anh Đậu Bá T2 (sinh năm 1983, trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn H, xã C, tỉnh Hà Tĩnh) không có ai trông giữ. Thấy vậy, Nguyễn Xuân T quay xe lại để P và  vào xem các tấm cốt pha thấy làm bằng sắt rồi đi ra nói lại cho T biết. Lúc này, Nguyễn Xuân T điều khiển xe chở P và  đi tìm xe kéo để lấy trộm các tấm cốt pha trên. Khi ra một cánh đồng (không xác định được vị trí) thấy có một chiếc xe kéo để bên đường giữa cánh đồng, T điều khiển xe mô tô chở P và  kéo theo chiếc xe kéo quay lại ngôi nhà trên. Khi đến, Nguyễn Xuân T đứng ở ngoài đường cảnh giới còn P và  kéo xe kéo vào bên trong sân nhà lấy trộm 12 tấm cốt pha làm bằng sắt, mỗi tấm có kích thước 350x30cm, trọng lượng 25,5kg của anh Đậu Bá T2 bỏ lên xe kéo, kéo ra ngoài đường để lên yên xe mô tô. Nguyễn Xuân T điều khiển xe mô tô chở theo P và  đi về địa phận thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh) thì nhìn thấy có cửa hàng phế liệu của chị Trương Thị T4 (sinh năm 1969, trú tại: thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - nay là thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh) ở bên đường đang đóng cửa nên cả ba để xe kéo lại gần đó rồi đi về phòng trọ của T ở phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường T, tỉnh Hà Tĩnh) nằm ngủ. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 07/01/2025, T, P và  đi đến chỗ để xe kéo lúc tối, đưa 12 tấm cốt pha lấy trộm của anh Đậu Bá T2 bán cho chị Trương Thị T4 (khi mua chị T4 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có) với số tiền 2.100.000 đồng rồi kéo xe kéo đi về bỏ ở bãi đất trống gần phòng trọ. Số tiền này, Nguyễn Xuân T cất giữ rồi cả ba tiêu xài hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 15/5/2025, kết luận: 12 tấm cốt pha làm bằng kim loại sắt, mỗi tấm có chiều dài 350cm, chiều rộng 30cm, trọng lượng 25,5kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá 2.448.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 08/01/2025, do Nguyễn Tiến  đang ngủ nên Nguyễn Xuân T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-27003 chở theo Hoàng Quốc P đi từ phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường T, tỉnh Hà Tĩnh) để về phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh). Khi đi đến địa phận thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh) do trời lạnh nên T bảo P không về nữa mà đi trộm cắp tài sản thì P đồng ý. Vì trước đây từng đi qua khu vực này, Nguyễn Xuân T thấy nhà anh Nguyễn Thanh L2 (sinh năm 1966, trú tại: thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - nay là thôn B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh) làm nghề thu mua phế liệu có dựng các tấm cốt pha làm bằng sắt nên T chở P đi lấy xe kéo dùng trước đó rồi quay lại nhà anh L2. Khi đến, Nguyễn Xuân T dừng xe mô tô ở ngoài đường rồi cùng với P kéo xe kéo vào lấy trộm 12 tấm cốt pha làm bằng sắt, mỗi tấm cốt pha có kích thước 400x80cm, trọng lượng 42kg của anh Nguyễn Thanh L2 bỏ lên xe kéo, kéo ra ngoài đường dùng xe mô tô chở về để ở một cánh đồng và về ngủ. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 08/01/2025, Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P đưa 12 tấm cốt pha đến bán cho một người phụ nữ tại tỉnh Hà Tĩnh (không rõ thông tin, địa chỉ cụ thể) với số tiền 3.200.000 đồng rồi kéo xe kéo về để ở một cánh đồng. Số tiền này, Nguyễn Xuân T cất giữ rồi cùng P tiêu xài hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 15/5/2025, kết luận: 12 tấm cốt pha làm bằng kim loại sắt, mỗi tấm có chiều dài 400cm, chiều rộng 80cm, trọng lượng 42kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá 4.032.000 đồng.
- Vụ thứ ba: Vào tối ngày 11/01/2025, Nguyễn Xuân T rủ Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đi trộm cắp tại sản thì cả hai đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 00 ngày 12/01/2025, Nguyễn Xuân T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-27003 chở Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đi qua nhà chị Trần Thị H2 (sinh năm 1975, trú tại: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh - nay là thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh) nhìn thấy có các tấm cốt pha để dưới gốc cây mưng phía trước nhà không có ai trông giữ. Thấy vậy, Nguyễn Xuân T chở P và  về lấy xe kéo dùng trước đó rồi quay lại nhà chị H2. Khi đến, Nguyễn Xuân T dựng xe ở ngoài đường đứng cảnh giới còn P và  kéo xe kéo vào trong lấy trộm 05 tấm cốt pha làm bằng sắt, mỗi tấm có kích thước 200x60cm, có trọng lượng 50kg và 01 tấm cốt pha làm bằng sắt có kích thước 200x80cm, có trọng lượng 60kg của chị H2. Sau khi lấy trộm được đến khoảng 6 giờ sáng cùng ngày, T điều khiển xe mô tô kéo theo xe kéo rồi chở P và  đưa các tấm cốt pha đến bán cho chị Trương Thị T4 (sinh năm 1969, trú tại: thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - nay là thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh- khi mua chị T4 không biết tài sản do trộm cắp mà có) với số tiền 2.300.000 đồng rồi kéo xe kéo đi về bỏ ở bãi đất trống gần phòng trọ. Số tiền này, Nguyễn Xuân T cất giữ rồi cả ba tiêu xài hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 15/5/2025, kết luận: 05 tấm cốt pha làm bằng kim loại sắt, mỗi tấm có chiều dài 200cm, chiều rộng 60cm, trọng lượng 50kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá 2.000.000 đồng; 01 tấm cốt pha làm bằng kim loại sắt, có chiều dài 200cm, chiều rộng 80cm, trọng lượng 60kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá 480.000 đồng.
- Vụ thứ tư: Khoảng 23 giờ ngày 17/01/2025, Nguyễn Xuân T tiếp tục rủ Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đi trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Lúc này, Nguyễn Xuân T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-27003 chở P và  rồi kéo theo xe kéo đi từ phòng trọ của T để đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực gần Trường đại học H6, Nguyễn Xuân T nói với P và  để xe kéo lại bên lề đường để đi lấy trộm xe mô tô. Nguyễn Xuân T chở P và  đi đến khu vực cổng làng giáo xứ N1 thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn Đ, xã C, tỉnh Hà Tĩnh) thì thấy chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda wave alpha, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 38N2-7998 của anh Nguyễn Doãn C1 (sinh năm 1990, trú tại: thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh - nay là thôn Đ, xã C, tỉnh Hà Tĩnh) dựng ở ngoài lề đường trước cổng của một nhà dân mà không có ai trông giữ. Lúc này, Nguyễn Xuân T dừng xe bên kia đường đứng cảnh giới, còn P và  đi bộ vào lấy trộm chiếc xe máy trên đẩy ra ngoài đường Q rồi T điều khiển xe mô tô sang đẩy cùng đi theo hướng ra B được khoảng 500m thì dừng xe lại. Nguyễn Xuân T dùng dao rọc giấy cắt, đấu nối dây điện rồi Phưởng nổ máy và điều khiển xe mô tô vừa trộm được đi.
Theo kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 15/5/2025, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu đỏ đen, số khung: 318553, số máy: 5418646, biển kiểm soát: 38N2-7998, chiếc xe máy cũ, đã qua sử dụng, có trị giá 3.000.000 đồng.
- Vụ thứ năm: Sau khi lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát: 38N2-7998, trên đường đi về khi đi qua một cánh đồng (không xác định được vị trí), T thấy có một chiếc xe kéo để bên đường nên dừng xe mô tô lại và Â ngồi sau xuống kéo xe kéo đặt lên yên xe mô tô rồi cả ba tiếp tục đi đến nhà chị Trần Thị H2 (sinh năm 1975, trú tại: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh - nay là thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh) để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà chị H2, thấy có các tấm cốt pha để dưới gốc cây mưng không có ai trông giữ, T dừng xe mô tô lại dưới gốc cây mưng còn P2 và Ầ vào lấy trộm 10 tấm cốt pha làm bằng sắt, mỗi tấm cốt kích thước 200x80cm, trọng lượng 60kg của chị H2 bỏ lên xe kéo rồi T điều khiển xe đi ra khu vực gần Trường đại học H6. Khi đến đó, cả ba dừng 02 xe mô tô lại rồi lấy chiếc xe kéo (xe lúc đi trộm ở lần thứ 4 mà T mang theo) chia ra 2 xe kéo mỗi xe 05 tấm cốt pha. Sau khi trộm được đến khoảng 5 giờ sáng cùng ngày, T, P và Â điều khiển 02 xe mô tô kéo theo 02 xe kéo chở các tấm cốt pha trộm được tiếp tục đi bán cho chị Trương Thị T4 (khi mua chị T4 không biết tài sản do trộm cắp mà có) với số tiền 4.200.000 đồng rồi vứt lại 01 xe kéo ở bên đường. Số tiền này, Nguyễn Xuân T cất giữ rồi cả ba tiêu xài hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 15/5/2025, kết luận: 10 tấm cốt pha làm bằng kim loại sắt, có chiều dài 200cm, chiều rộng 80cm, trọng lượng 60kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá 4.800.000 đồng.
- Vụ thứ sáu: Tối ngày 18/01/2025, Nguyễn Xuân T tiếp tục rủ Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đi trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Nguyễn Xuân T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-27003 chở theo Phưởng kéo theo xe kéo và Nguyễn Tiến  điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 38N2-7998 từ phòng trọ của T để đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà anh Nguyễn Đức T1 (sinh năm 1986, trú tại: Tổ dân phố K, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - nay là Tổ dân phố K, phường T, tỉnh Hà Tĩnh) thì T, P và  nhìn thấy có các cuộn dây điện để ở bãi đất trống bên cạnh tường rào nhà anh T1 không có ai trông giữ. Thấy vậy, Nguyễn Xuân T đứng ngoài cảnh giới còn P và  kéo xe kéo vào trong lấy trộm 315m dây điện, loại dây cáp đồng (bên ngoài bọc nhựa CXV màu đen, tiếp đến lớp giáp bảo vệ DSTA, bên trong có 4 lõi dây được làm bằng đồng) của anh T1 bỏ lên xe kéo rồi kéo ra đặt lên yên xe mô tô của T và cả ba kéo đi dọc đường bờ biển đưa về bờ biển thuộc phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường H, tỉnh Hà Tĩnh). Lúc này, Nguyễn Xuân T, Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  lấy xăng ở xe mô tô ra đốt dây điện và tách lấy phần lõi đồng dùng kéo cắt các sợi dây đồng thành các đoạn ngắn bỏ vào bao bì. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, T, P và  đưa đi bán cho chị Trần Thị T5 (sinh năm 1978, trú tại: Tổ dân phố V, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh - nay là Tổ dân phố V, phường H, tỉnh Hà Tĩnh - khi mua chị T5 không biết tài sản do trộm cắp mà có) với số tiền 38.800.000 đồng rồi kéo xe kéo về vứt ở bên đường. Số tiền này, Nguyễn Xuân T dùng để mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát: 38C1-31083 của anh Nguyễn Xuân L1 (sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh nay là Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh) với giá 24.500.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 38N2-7998 sau khi trộm được và sử dụng để đi lại, Nguyễn Xuân T, Hoàng Quốc P và Nguyễn Tiến  đi vào thành phố H rồi T bán cho một người đàn ông ở một cửa hàng xe máy tại thành phố H (không xác định thông tin, địa chỉ cụ thể) với số tiền 900.000 đồng và T cất giữ rồi tiêu xài cá nhân hết.
Theo kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 15/5/2025, kết luận: 315 mét dây điện, loại dây cáp đồng (bên ngoài bọc nhựa CXV màu đen, tiếp đến lớp giáp bảo vệ DSTA và trong cùng có 4 lõi dây đồng), đã qua sử dụng, có tổng trị giá 51.240.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát: 38C1-31083, số khung: 1010YJ003555, số máy: G3D4E768581, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 024040.
Đối với 28 tấm cốt pha làm bằng kim loại và 315 mét dây điện loại dây cáp đồng mà các bị can trộm được, sau khi bán cho bà Trương Thị T4 và Trần Thị T5 thì những người này đã bán lại cho những người mua bán phế liệu khác (không rõ thông tin, địa chỉ); Đối với 12 tấm cốt pha làm bằng kim loại trộm của anh Nguyễn Thanh L2 và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 38N2-7998 của anh Nguyễn Doãn C1, sau khi trộm được Nguyễn Xuân T đã bán cho những người khác (không rõ thông tin, địa chỉ) và đối với xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-27003 của bà Nguyễn Thị C, sau khi mượn T đã trả lại và xe bị hỏng nên bà C đã bán cho một người mua bán phế liệu (không rõ thông tin, địa chỉ); đối với 02 chiếc xe kéo, 01 chiếc dao rọc giấy và 01 chiếc kéo sau khi sử dụng các bị can đã vứt đi, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H5 đã tiến hành truy tìm nhưng đều không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bị mất trộm tài sản, anh Đậu Bá T2, anh Nguyễn Thanh L2, chị Trần Thị H2, anh Nguyễn Doãn C1 và anh Nguyễn Đức T1 yêu cầu các bị cáo bồi thường lần lượt số tiền 2.448.000 đồng; 4.032.000 đồng; 7.280.000 đồng; 3.000.000 đồng và 51.240.000 đồng, nay các bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-KV1 ngày 26/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Hoàng Quốc P về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T, Hoàng Quốc P phạm tội trộm cắp tài sản.
Về hình phạt:
- + Áp dụng Điểm b, c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm g, Điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Huế, thành phố H đối với Nguyễn Xuân T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 04 năm 09 tháng đến 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 22/02/2025.
- + Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 119, Khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Quốc P từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Huế, thành phố H đối với Hoàng Quốc P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 22 tháng đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- - Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nhưng xét thấy bị cáo T6 không nghề nghiệp, bị cáo P nghề nghệp không ổn định, bị cáo T đang bị tạm giam, bị cáo T6 là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát: 38C1-31083, số khung: G3D4E768581, số máy: G3D4E768581, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 024040, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với bị cáo.
-
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc:
- + Bị cáo Nguyễn Xuân T có trách nhiệm: bồi thường số tiền 51.240.000 đồng cho anh Nguyễn Đức T1; bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho anh Nguyễn Doãn C1; bồi thường số tiền số tiền 2.016.000 đồng cho anh Nguyễn Thanh L2; bồi thường số tiền 816.000 đồng cho anh Đậu Bá T2 và bồi thường số tiền 1.213.300 đồng cho chị Trần Thị H2.
- + Bị cáo Hoàng Quốc P có trách nhiệm: bồi thường số tiền 2.016.000 đồng cho anh Nguyễn Thanh L2; bồi thường số tiền 816.000 đồng cho anh Đậu Bá T2 và bồi thường số tiền 1.213.300 đồng cho chị Trần Thị H2. Bị cáo P phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì bà Nguyễn Thị D (mẹ của bị cáo) phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- + Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tiến  có trách nhiệm: bồi thường số tiền 816.000 đồng cho anh Đậu Bá T2 và bồi thường số tiền 1.213.300 đồng cho chị Trần Thị H2. Em Nguyễn Tiến  phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì ông Nguyễn Đình T3, bà Nguyễn Thị C3 (là cha, mẹ của anh Â) phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an tỉnh H5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến Â; người bị hại anh Nguyễn Doãn C1, anh Nguyễn Đức T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị cáo P; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tiến Â; một số người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng. Xét thấy, những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ quy định tại Điều 291, 292, 293 và khoản 3 Điều 423 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 07/01/2025 đến ngày 18/01/2025, Nguyễn Xuân T rủ Hoàng Quốc P thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh với tổng trị giá 68.000.000 đồng, gồm: Vụ thứ thất: Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P lấy trộm 12 tấm cốt pha làm bằng sắt của anh Đậu Bá T2 trị giá 2.448.000 đồng; Vụ thứ hai: Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P lấy trộm 05 tấm cốt pha làm bằng sắt của anh Nguyễn Thanh L2 trị giá 4.032.000 đồng; Vụ thứ ba: Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P lấy trộm 06 tấm cốt pha làm bằng sắt của chị Trần Thị H2 trị giá 2.480.000 đồng; Vụ thứ tư: Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P lấy trộm 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda wave alpha, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 38N2-7998 của anh Nguyễn Doãn C1 trị giá 3.000.000 đồng; Vụ thứ năm: Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P lấy trộm 10 tấm cốt pha làm bằng sắt của chị Trần Thị H2 trị giá 4.800.000 đồng; Vụ thứ sáu: Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P lấy trộm 315m dây điện, loại dây cáp đồng của anh Nguyễn Đức T1 trị giá 51.240.000 đồng. Sau khi lấy trộm các tài sản trên, Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P đã bán được tổng số tiền 51.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì mục đích có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lợi dung đêm khuya, thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của các bị hại, các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 68.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an cho người dân. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bị cáo thương không có nghề nghiệp, lấy việc phạm tội làm nguồn sống chính. Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKS-KV1 ngày 26/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Xuân T, Hoàng Quốc P chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”; Bị cáo T còn chịu tình tiết tăng nặng “xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội”, là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo T thuộc hộ cận nghèo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét thấy, bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội là người đủ 18 tuổi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo P khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi 3 tháng 16 ngày) nên được hưởng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Chương XII Bộ luật hình sự và Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Bị cáo T, P có nhân thân không tốt, do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội. Tại bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế, thành phố H xử đã xử phạt bị cáo T 01 năm 03 tháng tù, xử phạt bị cáo T6 04 tháng về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này với bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế, thành phố H, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung tù có thời hạn.
[7] Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Quốc P cho rằng hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, áp dụng Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo P dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét thấy, bị cáo phưởng được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và phải chịu 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Người bào chữa của bị cáo cho rằng bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng không có tài liệu chứng minh. Bị cáo không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 BLHS. Xét đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là tương đối phù hợp.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có nghề nghiệp, bị cáo P1 nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 68.000.000đ, cụ thể:
- - Anh Đậu Bá T2 yêu cầu bồi thường số tiền 2.448.000₫
- - Anh Nguyễn Thanh L2 yêu cầu bồi thường số tiền 4.032.000₫
- - Anh Nguyễn Doãn C1 yêu cầu bồi thường số tiền 3.000.000₫
- - Anh Nguyễn Đức T1 yêu cầu bồi thường số tiền 51.240.000₫
- - Chị Trần Thị H2 yêu cầu bồi thường số tiền 7.280.000đ. Tại phiên tòa chị H2 chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường một nửa số tiền là 3.640.000₫.
Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, xét yêu cầu bồi thường của những người bị hại là có căn cứ. Đối số tiền do trộm cắp dây điện của anh Nguyễn Đức T1, bị cáo T dùng 15 triệu để mua xe máy biển kiểm soát 38C1-31083 nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, số tiền còn lại bị cáo T tiêu xài cá nhân hết nên buộc bị cáo T phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ cho anh Đậu Đức T7 số tiền 51.240.000đ. Đối chiếc xe máy trộm cắp của anh Nguyễn Doãn C1, bị cáo T sử dụng riêng sau đó bán được 900.000đ, số tiền này bị cáo T tiêu xài xá nhân hết, nên buộc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ số tiền 3.000.000₫ cho anh C1. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Thanh L2 chỉ mình bị cáo T và P thực hiện, nên buộc bị cáo T, P phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường. Theo các bị cáo khai nhận số tiền do trộm cắp mà có các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến  cùng tiêu xài cá nhân, trong đó bị cáo T là người giữ tiền, quyết định việc chi tiêu chung, do đó buộc các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến  phải chịu kỷ phần bồi thường như nhau. Buộc bị cáo T, P mỗi người phải bồi thường cho anh L2 số tiền 2.016.000đ. Bị cáo T, P và người liên quan anh Nguyễn Tiến  có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Đậu Bá T2, chị Trần Thị H2, mỗi người phải bồi thường cho chị H2 số tiền 1.213.300đ (làm tròn số); cho anh Đậu Bá T2 số tiền 816.000đ. Anh Nguyễn Tiến  phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì ông Nguyễn Đình T3, bà Nguyễn Thị C3 là bố, mẹ của anh  phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Bị cáo Hoàng Quốc P phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì thì bà Nguyễn Thị D là mẹ của bị cáo P phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
[10] Liên quan trong vụ án còn có:
- - Đối với Nguyễn Tiến  đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P. Tại thời điểm thực hiện hành vi, Nguyễn Tiến  mới 14 tuổi 10 tháng 16 ngày, căn cứ khoản 2 Điều 12, Điều 173 Bộ luật hình sự, cơ quan điều tra xác định hành vi của Nguyễn Tiến  chưa cấu thành tội phạm là có căn cứ.
- - Đối với chị Trương Thị T4 và Trần Thị T5 đã mua các tấm cốt pha, sợi dây đồng điện do các bị cáo trộm cắp mà có, nhưng khi mua chị Trần Thị T5, chị Trương Thị T4 không biết những tài sản này do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với chị Trương Thị T4 và chị Trần Thị T5 là có căn cứ.
- - Đối với bà Nguyễn Thị C đã cho Nguyễn Xuân T mượn xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-27003, bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, nhưng khi cho mượn xe bà C không biết T sử dụng vào việc phạm tội, nên cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với bà Nguyễn Thị C là có căn cứ.
- - Đối với anh Nguyễn Xuân L1 là người bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 38C1-31083 cho Nguyễn Xuân T, nhưng anh L1 không biết nguồn gốc số tiền mà T sử dụng để mua là do bán tài sản trộm cắp được mà có cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với anh Nguyễn Xuân L1 là có căn cứ.
- - Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P khai nhận đã bán các tấm cốt pha lấy trộm của anh Nguyễn Thanh L2 cho một người phụ nữ tại tỉnh Hà Tĩnh và bán chiếc xe mô tô biểm kiểm soát: 38N2-7998 cho một người đàn ông tại thành phố H. Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T không cung cấp được thông tin, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
- - Nguyễn Xuân T và Hoàng Quốc P2 còn khai nhận đã lấy 02 chiếc xe kéo để sử dụng vào việc phạm tội nhưng quá trình điều tra không xác định được vị trí, bị hại cụ thể, không thu hồi được tài sản và không tiến hành định giá tài sản được đối với 02 chiếc xe kéo trên nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
[11] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát: 38C1-31083, số khung: 1010YJ003555, số máy: G3D4E768581, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 024040. Chiếc xe máy này do bị cáo Nguyễn Xuân T dùng tiền bán dây điện do các bị cáo trộm cắp dây điện của anh Đậu Đức T7 và tiền của bị cáo để mua. Hội xét xử buộc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại cho anh Đậu Đức T7, do đó, không tịch thu xung quỹ đối chiếc xe. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại chiếc xe máy cho bị cáo T, tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với bị cáo.
[12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Xuân T thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí, do đó, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân T. Buộc bị cáo Hoàng Quốc P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Buộc anh Nguyễn Tiến  phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo P, người đại diện hợp pháp của bị cáo P, người có quyền lợi, nghĩa vụ lên quan, người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Tiến A có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 56, 58, 104 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 48, 56, 58, 90, 91,101, 104 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 119, Điều 12, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Hoàng Quốc P;
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân T, Hoàng Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù tại bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Huế, thành phố H, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù từ ngày 22/02/2025.
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc P 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 04 tháng tù tại bản án số 07/2025/HS-ST, ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Huế, thành phố H, buộc bị cáo Hoàng Quốc P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo T, P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến  phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 64.360.000đ, cụ thể:
- - Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải bồi thường cho: Anh Đậu Đức T7 số tiền 51.240.000đ; Anh Nguyễn Doãn C1 số tiền 3.000.000đ; Anh Nguyễn Thanh L2 số tiền 2.016.000đ; Anh Đậu Bá T2 số tiền 816.000đ; Chị Trần Thị H2 số tiền 1.213.300đ (làm tròn số).
- - Buộc bị cáo Hoàng Quốc P bồi thường cho: Anh Nguyễn Thanh L2 số tiền 2.016.000đ; Anh Đậu Bá T2 số tiền 816.000đ; Chị Trần Thị H2 số tiền 1.213.300đ (làm tròn số). Bị cáo Hoàng Q1 phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì thì bà Nguyễn Thị D là mẹ của bị cáo P phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- - Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến  bồi thường cho: Anh Đậu Bá T2 số tiền 816.000đ; Chị Trần Thị H2 số tiền 1.213.300đ (làm tròn số). Anh Nguyễn Tiến  phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì ông Nguyễn Đình T3, bà Nguyễn Thị C3 là bố, mẹ của anh  phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- - Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, biển kiểm soát: 38C1-31083, số khung: 1010YJ003555, số máy: G3D4E768581, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 024040, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với bị cáo.
( Tình trạng vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H5 và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Tĩnh).
5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân T. Buộc bị cáo Hoàng Quốc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Buộc anh Nguyễn Tiến  phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo P, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị cáo P, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của anh Nguyễn Tiến  vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 21/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
