Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Long

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/HSST-QĐ ngày 23/01/2025 đối với các bị cáo:

  1. YOO JU HYOUNG, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1984, tại Hàn Quốc. Nơi thường trú: Hàn Quốc; nơi ở hiện nay: Phòng R Chung cư R, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Kỹ sư Công ty TNHH M3; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Hàn Quốc; Số hộ chiếu: M17553180; dân tộc: Hàn; tôn giáo: Không; con ông Yoo Huyn W và bà Na Kyoung E; vợ là Nguyễn Thị N và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/01/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
  2. CHOI GI TAE, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1977, tại Hàn Quốc. Nơi thường trú: Hàn Quốc; Nơi ở hiện nay: P Tòa S L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12 ; giới tính: Nam; quốc tịch: Hàn Quốc; Số hộ chiếu: M856A7733; dân tộc: Hàn ; tôn giáo: Không; con ông Choi Seung Y và bà An Sung J; vợ là Kim Yun J1 (đã ly hôn); có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 201/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Trục xuất về tội Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức (chưa xóa án tích); bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/5/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
  3. Phùng Văn M, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1989, tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty TNHH K2; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phùng Văn M1 và bà Lê Thị H; vợ là Trần Thị L; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 196/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 20 triệu đồng về tội Gây rối trật tự công cộng (chưa xóa án tích); bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/3/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
  4. Đỗ Văn Đ, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1994, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty TNHH K2; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị L1; vợ là Nguyễn Thị T; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 196/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 20 triệu đồng về tội Gây rối trật tự công cộng (chưa xóa án tích); bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
  5. Phùng Văn P, sinh ngày 04 tháng 3 năm 1984, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty TNHH Z1; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phùng Văn L2 và bà Lê Thị L3; vợ là Lê Thị Khánh L4; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 25/11/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; có mặt.
  6. Đào Văn B sinh ngày 16 tháng 8 năm 1981, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đào Văn V và bà Hoàng Thị T1; vợ là Phùng Quý L5; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/10/2024; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH M3 (Công ty M3); Địa chỉ trụ sở: Tầng G - Toà nhà LICOGI13 TOWER, Số A Khu Á, Phường N, quận T, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ Chi nhánh Công ty M3 tại Hải Phòng: Cụm C, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng.

Đại diện theo Uỷ quyền là bà Lê Thị Thu A là chuyên viên phòng pháp chế Công ty, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Yoo Ju H1:

  • + Ông Nguyễn Trung K, Luật sư thuộc Văn phòng L7, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

+ Ông Phạm Quang H2 và ông Nguyễn Đình L6 đều là Luật sư Công ty L8 và cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Choi Gi T2: Bà Nguyễn Thị T, Luật sư thuộc Văn phòng L7, Đoàn Luật sư thành phố H, vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn M: Ông Nguyễn Đăng K1, Luật sư thuộc Văn phòng L9, Đoàn Luật sư thành phố H (bị cáo từ chối Luật sư).

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn Đ: Bà Nguyễn Thị T, Luật sư thuộc Văn phòng L7, Đoàn Luật sư thành phố H, vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn P:

  • + Ông Nguyễn Đăng K1, Luật sư thuộc Văn phòng L9, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị D, Luật sư thuộc Văn phòng L7, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

- Người phiên dịch cho bị cáo Yoo Ju H1 và Choi Gi T2: Bà Vũ Thị Diệp Q, Công an thành phố H, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm A, thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Hải Dương, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đỗ Văn M2, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Yoo Ju Hyoung là nhân viên của Công ty TNHH M3 (Công ty M3) – nhà thầu phụ của Công ty Z1, có trụ sở tại Khu công nghiệp T, huyện A (nay là quận A), Hải Phòng. Y2 là kỹ sư được giao phụ trách an toàn (không có quyền quản lý, sử dụng tài sản trong kho) làm việc tại Công trường H2, thi công hệ thống cấp thoát nước và thông gió. Y2 phát hiện trong kho vật tư của Công ty M3 có các ống thép mạ kẽm chưa sử dụng nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt mang bán lấy tiền ăn tiêu. Y2 trao đổi với Choi Gi T2 (là người chuyên môi giới mua bán hàng hoá tại KCN T) về việc có ống thép mạ kẽm, không giấy tờ muốn bán và chụp ảnh xác định đặc điểm hàng hóa, vị trí các ống thép để trong kho, vị trí nhà xưởng gửi qua Zalo cho Choi Gi T2 xem. Choi Gi T2 bảo Y2 đưa chìa khoá kho cho Choi Gi T2, còn việc lấy hàng, đưa ra ngoài mang đi tiêu thụ sẽ có nhóm người Việt Nam lo. Choi Gi T2 liên hệ với Phùng Văn M (là Giám đốc Công ty TNHH K2) trao đổi, giao dịch bán các ống thép không có giấy tờ của Yoo Ju H1 và gửi tiếp hình ảnh ống thép, vị trí kho, nhà xưởng mà Choi Gi T2 đã nhận của Y1 Ju Hyoung trước đó, qua Z cho M xem. Hai bên thống nhất mua bán, giá 9.000 đồng/kg, M sẽ sắp xếp cho người vào kho lấy hàng, mang ra ngoài tiêu thụ. M chuyển tiếp hình ảnh ống thép nhận được của Choi Gi T2 qua Zalo cho Đỗ Văn Đ là nhân viên của mình, bảo Đ tìm người mua lô hàng trên. Đ liên lạc với Đỗ Văn Đ2 (sinh năm 1993, T3 tại: Xóm N, M, K, Hải Dương) thỏa thuận mua bán số hàng trên với giá 14.000 đồng/kg, Đ2 sẽ chuẩn bị xe ô tô tải để lấy hàng.

Ngày 10/4/2023, Choi Gi Tae báo M4 chuẩn bị xe để lấy hàng trong kho của Công ty M3. M báo Đ chuẩn bị xe đi lấy hàng nhưng do Yoo Ju H3 chưa lấy trộm được chìa khóa kho nên không lấy được hàng.

Ngày 13/4/2023, Y2 chờ hết giờ làm việc, lấy trộm chìa khoá kho ở văn phòng Công ty M3, báo cho Choi Gi Tae đến lấy hàng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, C Gi Tae gọi, hẹn gặp M giao chìa khóa kho để Minh tự lấy hàng như thỏa thuận trước đó. M gọi điện thoại cho Đ, bảo Đ liên lạc với M4 lấy chìa khóa và báo xe đến lấy hàng. M liên lạc với Phùng Văn P (là em họ, là người phụ trách tổ bảo vệ của Công ty Z1, có nhiệm vụ kiểm soát hàng hóa, phương tiện ra, vào Công ty; là người kí duyệt phiếu ra vào cổng “Gate pass” thì tổ bảo vệ mới cho phương tiện, hàng hóa qua cổng), M nói với Phòng: tối nay có ít hàng hóa, không có giấy tờ, nhờ Phòng hỗ trợ cho xe ô tô tải vào lấy hàng, mang ra ngoài. Phòng đồng ý. Sau khi nhận nhiệm vụ M giao, Đ liên lạc với Đ2 báo chuẩn bị xe ô tô tải lớn có gắn cẩu tự hành để lấy hàng và hẹn Choi Gi Tae gặp ở khu vực trước cổng ngân hàng S (gần Khu công nghiệp T) để lấy chìa khóa kho. Y3 lái xe ô tô chở C Gi Tae đến điểm hẹn và giao chìa khóa kho hàng cho Đ.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ đi cùng xe ô tô tải vào kho vật tư của Công ty M3 lấy hàng. Đến khu vực cổng bảo vệ, Đ chụp hình ảnh xe ô tô tải gửi qua Zalo cho M để gửi tiếp cho P qua Z. Phòng gửi tiếp hình ảnh lên nhóm Z bảo vệ (gồm Phòng, Đào Văn B và các nhân viên bảo vệ) và nhắn trên nhóm bảo vệ cho xe vào Công ty. Đ vào khu vực kho vật tư Công ty M3 mở khóa cửa kho hàng, thấy số lượng ống thép lớn nên B1 thêm 02 xe ô tô tải để lấy hàng. Đến 22 giờ 39 phút cùng ngày, xe ô tô tải thứ nhất (BKS 15C- 154.76) chở hàng ra ngoài, đến khu vực cổng bảo vệ, Đ chụp hình ảnh xe ô tô chở hàng gửi cho M qua Z, M chuyển tiếp hình ảnh cho P, Phòng chuyển tiếp hình ảnh xe ô tô chở hàng lên nhóm bảo vệ và nhắn “bảo vệ cho xe qua cổng” còn Đ đi xe mô tô ra ngoài theo sau xe hàng. Đến 22 giờ 41 phút cùng ngày, Đ2 đưa 02 xe ô tô tải đến lấy hàng (BKS 15C-165.85, BKS 15H-035.85). Khi tới đến khu vực cổng bảo vệ, Đ quay lại đón Đ2 và chụp hình ảnh 02 xe ô tô tải trên, gửi cho M qua Z, M chuyển tiếp hình ảnh cho Phòng để Phòng nhắn tổ bảo vệ cho xe qua cổng. Đ tiếp tục chỉ đạo bốc hàng lên xe ô tô tải. Đến 23 giờ 47 phút, hai xe ô tô tải trên chở hàng ra ngoài, Đỗ Văn M2 (sinh năm 1977, trú tại 2 T, phường Đ, quận H, Hải Phòng) đang trực bảo vệ ngăn lại vì không có ý kiến của Phòng cho xe qua cổng. Điệp chụp hình ảnh 02 xe ô tô tải chở hàng gửi cho M để liên lạc với Phòng cho xe qua cổng nhưng không được do P đang ngủ. Đ hỏi M2 là Đào Văn B (là em vợ của M) có thể thay Phòng duyệt cho xe ô tô tải chở hàng qua cổng không, thì M2 nói chỉ cần có ý kiến của các sếp thì bảo vệ sẽ cho xe qua cổng. Đ gọi điện thoại cho B nói có hàng của M nhờ Phòng hỗ trợ, can thiệp qua cổng bảo vệ công ty nhưng không liên lạc được với P nên nhờ B can thiệp, hỗ trợ cho xe hàng qua cổng bảo vệ. B thấy trên nhóm bảo vệ có tin nhắn của Phòng yêu cầu tổ bảo vệ cho xe ô tô chở hàng qua cổng trước đó, nên đã nhắn trên nhóm bảo vệ cho 02 xe hàng qua cổng.

Sau khi 03 xe hàng trộm cắp trên, đưa ra khỏi Công ty M3, Đ điều khiển xe mô tô đi theo sau các xe hàng đến trạm cân ở khu vực Quán T, cân trọng lượng hàng hóa, xác định có tổng trọng lượng 19,96 tấn (xe BKS 15C-154.76 chở 4,8 tấn; xe BKS 15H-035.85 chở 9,96 tấn; xe BKS 15C-165.85 chở 5,2 tấn). Đ2 thanh toán tiền hàng cho Đ là 279.440.000 đồng (chuyển khoản 268.000.000 đồng, tiền mặt 11.440.000 đồng). Đ đưa tiền bán số ống thép trên cho M, được M cho 10.000.000 đồng. M cho Phòng 5.000.000 đồng (chuyển khoản), cho B 2.000.000 đồng (chuyển khoản cho vợ B). M trả cho C Gi Tae 179.600.000 đồng, M hưởng lợi 84.840.000 đồng. Choi Gi T2 trả cho Y2 129.400.000 đồng, M4 hưởng lợi 50.200.000 đồng.

Sáng ngày 14/4/2023, Công ty M3 phát hiện mất hàng hóa đã báo tổ bảo vệ và đến cơ quan Công an huyện A trình báo (bút lục: 06-07).

Biết hành vi phạm tội bị phát hiện, Choi G cùng Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng V, Đào Văn B bàn bạc, xóa toàn bộ nội dung tin nhắn trên Zalo cá nhân và nhóm Zalo bảo vệ và các nội dung trao đổi, liên lạc trên điện thoại cá nhân. Quá trình điều tra các đối tượng đều khai bị mất điện thoại, cơ quan điều tra không thu giữ được.

Công ty M3 xuất trình dữ liệu điện tử là hình ảnh camera an ninh tại khu vực cổng bảo vệ có ghi lại hình ảnh các đối tượng, xe ô tải vào Công ty chở hàng hóa ra ngoài như nội dung nêu trên. Tiến hành giám định dữ liệu điện tử nguyên vẹn, không bị cắt ghép, chỉnh sửa, trích xuất 13 hình ảnh liên quan đến vụ án (bút lục: 870, 899-903).

Theo đại diện Công ty M3 trình bày: Công ty không có chủ trương, kế hoạch xuất, bán số ống thép trên, không giao nhiệm vụ cho ai thực hiện việc xuất bán vật tư trong kho. Bản thân Yoo J là kỹ sư an toàn, không có trách nhiệm xử lý hàng hoá vật tư trong kho của công ty.

Về quy trình quản lý con người, phương tiện, hàng hóa vật tư ra vào khu vực kho:

  • Đối với con người: khi ra vào khu vực kho phải mặc quần áo của nhà thầu, đeo thẻ của nhà thầu chính (Công ty Z1 cấp).
  • Đối với hàng hóa vật tư phương tiện khi ra vào khu vực kho cần có giấy ra vào (Gate Pass) do nhà thầu chính (Công ty Z1) cấp và phải có đủ chữ ký của Công ty M3 và Công ty Z1; trên giấy ra vào ghi đầy đủ thông tin của lái xe (ảnh chụp căn cước công dân 2 mặt), thông tin xe (ảnh chụp trước và sau xe rõ biển số), hình ảnh vật tư hàng hóa ra vào và số lượng cụ thể. Khi vào kho vật tư cần xuất trình giấy ra vào cho lực lượng bảo vệ tại cổng kiểm tra, nếu đúng thông tin lái xe và xe trên giấy thì bảo vệ sẽ cho xe vào. Khi ra khỏi cổng cần xuất trình giấy ra vào để lực lượng bảo vệ kiểm tra đúng số lượng, chủng loại thì sẽ cho xe ra (bút lục: 1001).

Theo đại diện Công ty Z1 trình bày về quy định vận chuyển hàng hóa ra, vào Công ty: hàng hóa, phương tiện vận chuyển ra vào công ty, qua cổng bảo vệ phải có giấy ra cổng Gate pass. Trên giấy ra vào cổng phải có đủ chữ ký của các bên quản lý công trường, nhà thầu (nhà thầu chính, nhà thầu phụ) và Phùng Văn P, có đóng dấu treo của Công ty. Nếu không có giấy ra vào cổng thì tổ bảo vệ không được phép cho hàng hóa, phương tiện qua cổng. Không mang hàng hóa ra khỏi Công ty vào ban đêm, trừ trường hợp cần thi công gấp, số lượng hàng hóa phù hợp với yêu cầu thi công, có thể thiếu giấy ra vào cổng nhưng phải có xác nhận của các bên nhà thầu và Phòng. Phải hoàn trả giấy ra vào cổng theo quy định của Công ty vào ngày hôm sau (bút lục: 709-111).

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc Iphone màu ghi xám của Yoo Ju H1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu trắng Đỗ Văn M2. Tiến hành giám định, trích xuất dữ liệu điện tử trên các thiết bị trên thấy có nhiều hình ảnh số ống thép, vị trí kho hàng và nội dung trao đổi của Y2 với Choi Gi Tae mua bán lô hàng trên; có hình ảnh ô tô tải qua cổng bảo vệ không chở/có chở các ống thép ra ngoài, có nhiều nội dung tin nhắn của Phòng, B với tổ bảo vệ yêu cầu cho xe ô tô tải chở hàng qua cổng bảo vệ phù hợp với thời gian trên camera an ninh tại khu vực bảo vệ của Công ty M3 lưu giữ (bút lục: 849-850, 911).

Số ống thép nêu trên, Đ2 đã bán cho người khác. Sau đó, Đ2 đã tự nguyện bỏ ra 200.000.000 đồng chuộc lại và giao nộp cho cơ quan Công an huyện A (nay là quận A).

Tại Kết luận định giá tài sản số 44 ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A(nay là quận A) kết luận: tổng số ống thép mạ kẽm của Công ty M3 có trọng lượng 19,96 tấn bị chiếm đoạt có trị giá là 612.057.334 đồng (sáu trăm mười hai triệu không trăm năm bảy ngàn ba trăm ba tư đồng) (bút lục: 882-883).

Tại cơ quan điều tra, các bị can Yoo J, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng V, Đào Văn B khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Các bị can đều khai nhận nguồn gốc số ống thép mạ kẽm được lấy từ kho vật tư của Công ty M3 vào ban đêm, không có giấy tờ (hợp đồng mua bán, không có có phiếu xuất kho...), không có mặt của chủ đầu tư, nhà thầu phụ, bên mua, bên bán. Yoo Ju H1 không kí vào mục đại diện nhà thầu trên giấy qua cổng. Đ dùng chìa khóa kho do Yoo Ju H1 lấy trộm của Công ty M4 đưa cho Đ, tự mở kho lấy hàng mang bán cho Đ2. Số lượng hàng hóa các đối tượng lấy khoảng 20 tấn, phải vận chuyển bằng 03 xe ô tô tải có gắn cẩu tự hành để nâng hạ.

Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng Văn P, Đào Văn B đều khai không cùng nhau bàn bạc từ trước, không biết số ống thép trên là tài sản Yoo Ju Hyoung lấy trộm của Công ty M3. Choi G và Phùng Văn M đều khai: mua số ống thép trên không có giấy tờ, không có phiếu xuất kho, khi mua bán cả hai đều không có mặt. Đ là nhân viên của M, làm theo chỉ đạo của M. P và B là họ hàng của M do nể nang nên đã giúp M cho xe ô tô hàng qua cổng, bỏ qua thủ tục kiểm tra, soát xét giấy tờ nguồn gốc hàng hóa. Các đối tượng đều biết số ống thép trên là hàng bất hợp pháp. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Đ, P, B đều được M cho tiền.

Toàn bộ số tiền các đối tượng được hưởng lợi đã nộp lại cho cơ quan điều tra: Y2 nộp lại 129.400.000 đồng, Choi G nộp lại 50.200.000 đồng, M nộp lại 99.400.000 đồng, Đ nộp lại 10.000.000 đồng, P nộp lại 5.000.000 đồng, B nộp lại 2.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lời bất chính các đối tượng nộp lại là 296.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra Đỗ Văn M2 khai phù hợp với nội dung nêu trên. M2 là nhân viên của Công ty bảo vệ AT là bên thứ 3 kí hợp đồng dịch vụ bảo vệ với Công ty Z1 (nhà thầu chính, là Công ty Phòng, B làm việc), Công ty M3 là nhà thầu phụ của Công ty Z1. Phòng là nhân viên Công ty Z1, có trách nhiệm quản lý tổ bảo vệ, B là nhân viên của Phòng. Phòng lập nhóm Z có Phòng, B và lãnh đạo, các nhân viên bảo vệ của Công ty A1 để tiện trao đổi, nhắc việc. Các nhân viên bảo vệ của Công ty Al phải tuân theo sự chỉ đạo của Phòng, B. M2 có nhiệm vụ bảo vệ tại khu vực cổng ra vào, khi Đ đưa xe ô tô tải vào Công ty lấy hàng không có giấy tờ qua cổng, M2 đã ngăn xe lại không cho qua, thấy P và B nhắn trên nhóm Zalo bảo vệ yêu cầu cho xe qua nên M2 đã cho xe ô tô chở hàng qua cổng, M2 không được hưởng lợi ích vật chất gì. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, M2 đã tự nguyện giao nộp điện thoại di động và trích toàn bộ nội dung tin nhắn Zalo của P, B chỉ đạo cho xe ô tô ra vào Công ty, chở lô ống thép trên qua cổng, giao nộp cho cơ quan công an.

Đỗ Văn Đ2 trình bày: Đ2 mua lô ống thép mạ kẽm của Đỗ Văn Đ nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có, đã bán cho người khác. Đ2 có đi cùng 02 xe ô tô tải đến sau, cùng Đ vào kho lấy hàng nhưng Đ2 không biết, không được nhóm của Đ bàn bạc thực hiện hành vi phạm tội. Khi biết tài sản mua của Đ là do phạm tội mà có, Đ2 đã tự nguyện bỏ ra 200.000.000 đồng, chuộc lại tài sản, mang giao nộp cho cơ quan công an. Đ2 yêu cầu giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Lời khai của các bị can Yoo J, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng V, Đào Văn B, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của những người liên quan, nội dung bản Kết luận định giá tài sản, Kết luận giám định, dữ liệu điện tử cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty M3 toàn bộ số ống thép do Đ2 giao nộp. Chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng gồm:

  • Số tiền lợi bất chính các bị can tự nguyện giao nộp là 296.000.000 đồng;
  • 06 chiếc điện thoại di động (01 chiếc Iphone màu xám của Yoo J, 01 chiếc Samsung Pay của Choi Gi Tae, 01 chiếc Samsung M21 của Phùng Văn M, 01 chiếc Oppo Rono 3 của Phùng Văn Phòng; 01 chiếc Vivo màu hồng của Đỗ Văn Đ; 01 chiếc Samsung A02S của Đào Văn B).
  • 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại màu bạc in dòng chữ “SOLEX”;
  • 01 quyển sổ màu nâu (kích thước 15x10cm), 02 quyển hộ chiếu số M17553180 (của Yoo J), số M856A7733 (của Choi G).

Về trách nhiệm dân sự: Công ty M3 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can.

Tại Cáo trạng số 273/CT-VKSHP-P3 ngày 30 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng Văn P về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Truy tố Đào Văn B về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Đào Văn B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo Phùng Văn P khai phù hợp với bị cáo khác và thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên bị cáo P cho rằng khối lượng buộc tội đối với bị cáo theo cáo trạng nêu là không chính xác vì bị cáo chỉ duyệt cho 1 xe qua cổng. Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, phân tích hành vi phạm tội đánh giá tính chất vụ án, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Yoo Ju H1, Choi G và Phùng Văn Phòng mỗi bị cáo từ 12 đến 13 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ mỗi bị cáo từ 09 đến 10 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn B 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty M3 đã nhận lại tài sản đầy đủ và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Trả lại anh Đỗ Văn Đ2 số tiền anh Đ2 đã bỏ ra chuộc toàn bộ tài sản trả cho bị hại.

Trả lại bị cáo M 14.560.000 đồng.

Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc chìa khoá, 01 quyển sổ.

Trả lại hộ chiếu cho bị cáo Yoo Ju H1 và Choi G.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 06 chiếc điện thoại di động thu cuả các bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Đỗ Văn Đ nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh điều luật truy tố, các luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức của Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên toà bị cáo P nhận tội một phần, chỉ nhận cho 1 xe qua cổng. Tuy nhiên, Luật sư bào chữa cho bị cáo P1 Văn Phòng có quan điểm bị cáo Phòng không phạm tội Trộm cắp tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh : Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Yoo J (quốc tịch Hàn Quốc) là nhân viên phụ trách an toàn của Công ty M3, không có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản trong kho vật tư của Công ty. Lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý, Yoo Ju H1 đã lấy trộm chìa khóa kho vật tư của Công ty, bàn bạc với Choi Gi T2 (quốc tịch Hàn Quốc) là đối tượng chuyên thu gom hàng hóa trong khu công nghiệp T, đưa chìa khóa kho hàng cho C Gi Tae để cùng với Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng V, Đào Văn B vào kho lấy 19,96 tấn ống thép mạ kẽm của Công ty M3, mang đi bán lấy tiền ăn tiêu. Tổng trị giá tài sản các bị cáo cùng nhau chiếm đoạt là 612.057.334 đồng. Hành vi của các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng V và Đào Văn B đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Tài sản các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng Văn P chiếm đoạt trị giá là 612.057.334 đồng nên hành vi của các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ, Phùng Văn Phòng đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.”.

Đối với bị cáo Đào Văn B có hành vi đồng phạm, tài sản bị cáo tham gia chiếm đoạt là: 396.995.242 đồng nên hành vi của B đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đối đáp nêu các căn cứ buộc tội đối với bị cáo P. Đồng thời chỉ ra sự mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo P về việc bị cáo nhận tội một phần còn luật sư bào chữa lại có quan điểm bị cáo không phạm tội. Luật sư bào chữa cho bị cáo Phùng Văn P có quan điểm bị cáo Phòng không phạm tội trộm cắp là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ hợp tác và đầu tư của các nước vào Việt Nam nên phải xử phạt nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Xét vai trò của bị cáo: Trong vụ án có đồng phạm nhiều bị cáo tham gia, Hội đồng xét xử phân hoá các bị cáo như sau: Yoo Ju Hyoung là người khởi xướng, chủ động tìm đối tượng chuyên thu gom hàng hóa trong khu công nghiệp là Choi Gi Tae trao đổi, bàn bạc cách thức lấy hàng hóa trong kho, trực tiếp lấy chìa khóa kho và cùng với C Gi Tae đưa cho Đỗ Văn Đ để cùng các đối tượng khác vào kho lấy hàng hóa của Công ty M3 mang bán cho người khác, hưởng lợi 129.400.000 đồng.

Choi Gi T2 là người thực hành tích cực, sau khi tiếp nhận ý chí của Y2 đã chủ động liên lạc với Phùng Văn M cung cấp thông tin hình ảnh hnagf hoá và vị trí để tài sản, bàn bạc với Yoo Ju H1 và Phùng Văn M về cách thức lấy hàng trong kho của Công ty M3 mang đi bán lấy tiền, bị cáo được hưởng lợi 50.200.000 đồng.

Phùng Văn P là người có trách nhiệm quản lý tổ bảo vệ, phải kiểm tra hàng hóa, phương tiện ra vào cổng, thực hiện quy định của Công ty về việc xuất nhập hàng hóa ban đêm nhưng do có quan hệ họ hàng với bị cáo M nên đã nể nang, đồng ý giúp cho M, bỏ qua thủ tục kiểm tra, soát xét hàng hóa ra khỏi công ty, đầu mối quan trọng để M và đồng phạm có thể lấy trót lọt hàng hóa của Công ty M3 mang đi tiêu thụ, bị cáo được hưởng lợi 5.000.000 đồng.

Phùng Văn M là người thực hành tích cực, tiếp nhận ý chí của Choi G đã chủ động phân công, sắp xếp nhân lực (Đỗ Văn Đ trực tiếp vào lấy hàng và tìm người tiêu thụ, Phùng Văn Phòng hỗ trợ bỏ qua thủ tục kiểm tra, soát xét của tổ bảo vệ), bị cáo không trực tiếp vào Công ty lấy tài sản nhưng bị cáo là người điều hành bị cáo Đ, kết hợp với bị cáo P vào kho lấy tài sản ra khỏi Công ty M5 đi bán, trực tiếp nhận tiền bán tài sản chiếm đoạt được của Công ty M3 chia cho các đối tượng khác, bị cáo hưởng lợi 84.840.000 đồng.

Đỗ Văn Đ là người thực hành tích cực, tiếp nhận ý chí và chịu sự phân công, chỉ huy, điều hành của Phùng Văn M, trực tiếp vào lấy hàng trong kho, tìm người tiêu thụ, liên lạc với Đào Văn B để nhờ hỗ trợ, bỏ qua thủ tục kiểm tra, cho xe hàng qua cổng bảo vệ, giám sát trọng lượng tài sản chiếm đoạt, nhận tiền bán tài sản phạm tội mà có mang về đưa cho M, bị cáo được hưởng lợi 10.000.000 đồng.

Tổng trị giá hàng hóa các đối tượng Yoo J, Choi G, Phùng V, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ cùng nhau chiếm đoạt có trị giá là 612.057.334 đồng.

Đào Văn B là người giúp sức, là nhân viên của P, những lúc Phòng bận, nhờ B thay Phòng duyệt hàng hóa, phương tiện qua cổng bảo vệ. Sau khi nhận được yêu cầu của Đ, B vào nhóm Z bảo vệ, thấy Phòng đã có ý kiến yêu cầu bảo vệ cho xe qua cổng trước đó, B tiếp nhận ý chí của Phòng, nhắn tin trên nhóm bảo vệ yêu cầu cho xe qua, giúp cho Đ và các đối tượng khác lấy trót lọt 02 xe ô tô hàng hóa mang đi bán (xe BKS 15H-035.85 chở 9,96 tấn; xe BKS 15C-165.85 chở 5,2 tấn), bị cáo hưởng lợi 2.000.000 đồng. Tổng trị giá hàng hóa B giúp sức để chiếm đoạt có trị giá là: 396.995.242 đồng

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phùng Văn M có bố tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân, huy chương nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm là có căn cứ nên chấp nhận. Đối với tình tiết “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” của Luật sư H2 đề nghị áp dụng cho bị cáo Yoo Ju H1 là không có căn cứ chấp nhận.

[8] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Yoo Ju H1 là người khởi xướng, và thực hiện việc lấy trộm chìa khoá kho hàng đưa cho Choi Gi Tae. Bị cáo Choi Gi T2 là người thực hành tích cực, sau khi tiếp nhận ý chí của Yoo J đã chủ động liên lạc với Phùng Văn M lấy hàng trong kho của Công ty M3 mang đi bán. Bị cáo Phùng Văn P là người có vai trò quan trọng, có trách nhiệm quản lý tổ bảo vệ, Phòng đã đồng ý giúp cho M, yêu cầu các bảo vệ bỏ qua thủ tục kiểm tra, soát xét hàng hóa, không có ý kiến của Phòng thì các bị cáo không lấy được tài sản ra khỏi công ty. Do vậy hình phạt của các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G và Phùng Văn P là ngang nhau và cao nhất trong vụ án.

Phùng Văn M là người thực hành tích cực, tiếp nhận ý chí của M4 đã chủ động liên hệ và điều hành Đỗ Văn Đ trực tiếp vào kho lấy hàng và trao đổi với Phùng Văn Phòng là phụ trách bảo vệ cho hàng ra ngoài. bị cáo Đỗ Văn Đ là người thực hành tích cực, trực tiếp vào lấy hàng trong kho, liên lạc với Đào Văn B để nhờ hỗ trợ, bỏ qua thủ tục kiểm tra, cho xe hàng qua cổng bảo vệ, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo M và bị cáo Đ thành khẩn khai báo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đối với bị cáo Đào Văn B là đồng phạm vai trò giúp sức, bị cáo không được bàn bạc từ trước, hành vi đơn giản, vai trò hạn chế, hưởng lợi ít, hiện đang tại ngoại như bị cáo P. Do bị cáo Đ không liên lạc được với bị cáo P nên mới gọi bị cáo B giúp đỡ. B cũng không liên lạc được với P, nhưng thấy Phòng có ý kiến chỉ đạo tổ bảo vệ cho xe qua cổng trước đó trên nhóm zalo nên đã chủ quan, giúp cho Đ cho 2 xe hàng qua cổng bảo vệ. Bị cáo B phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH M3 (Công ty M3) đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu bồi thường nào khác nên không xem xét giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Số tiền 296.000.000 đồng của các bị cáo nộp lại, trong đó có 279.440.000 đồng là số tiền các bị cáo thu lợi do việc bán các thanh sắt trộm cắp cho anh Đỗ Văn Đ2, còn lại số tiền 14.560.000 đồng là do bị cáo M nộp thừa. Hội đồng xét xử xét thấy anh Đỗ Văn Đ2 sau khi biết được tài sản mua của các bị cáo là do trộm cắp mà có nên đã đem trả lại cho Công ty, anh Đ2 không liên quan đến việc trộm cắp tài sản cuả các bị cáo, bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên cần trả lại số tiền 279.440.000 đồng cho anh Đ2.

Số tiền 14.560.000 đồng là do bị cáo M nộp thừa nên trả lại bị cáo M.

06 điện thoại di động thu của các bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

01 quyển sổ và 01 chiếc chìa khoá không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

02 quyển hộ chiếu là giấy tờ cá nhân của các bị cáo Yoo Ju H1 và Choi Gi T2 nên trả lại các bị cáo sử dụng.

01 máy tính bảng thu là tài sản cá nhân của bị cáo Yoo Ju H1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14] Các vấn đề khác: Đối với Đỗ Văn M2 là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH A1 (bên thứ 3), thấy xe ô tô chở hàng không có giấy tờ qua cổng theo quy định của Công ty, đã ngăn lại không cho xe qua, nhưng sau đó đã làm theo sự chỉ đạo của P và B cho các xe ô tô chở hàng hóa qua cổng nhưng không được hưởng lợi. Kết quả điều tra chứng minh M2 không biết, không được các bị cáo bàn bạc thực hiện hành vi phạm tội, ngay sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện M2 đã tích cực giao nộp chứng cứ để làm căn cứ xử lý các đối tượng khác. Tài liệu điều tra không chứng minh được M2 đồng phạm với các bị cáo khác nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với Đỗ Văn Đ2 là người mua tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Kết quả điều tra xác định: Đ2 không biết rõ nguồn gốc số hàng hóa mua của Đỗ Văn Đ là tài sản do các đối tượng phạm tội mà có. Khi Đ2 đi theo 2 xe ô tô đến sau, cùng Đ vào kho lấy hàng nhưng Đ2 không biết, không bàn bạc với nhóm của Đ thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi mua hàng của Đ, Đ2 đã chào bán công khai trên các trang mạng xã hội. Biết tài sản mua của Đ do phạm tội mà có, Đ2 đã tích cực phối hợp với cơ quan Công an, tự nguyện bỏ tiền để chuộc lại tài sản, thu hồi lại vật chứng phục vụ công tác điều tra, trả lại cho bị hại là Công ty M3. Tài liệu điều tra không chứng minh được Đỗ Văn Đ2 đồng phạm với các bị cáo hoặc biết rõ tài sản mua bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Yoo Ju H1, Choi G và Phùng Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản.

  • Xử phạt: Bị cáo Yoo Ju H1 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 31/01/2024.
  • Xử phạt: Bị cáo Choi Gi T2 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/5/2024.
  • Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn Phòng 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ những ngày đã tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 25/11/2024.
  • Tiếp tục duy trì Quyết định bảo lĩnh của bị cáo P1 Văn Phòng cho đến khi đi thi hành án.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phùng Văn M và Đỗ Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

  • Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn M 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/3/2024.
  • Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/8/2024.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đào Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản.

  • Xử phạt: Bị cáo Đào Văn B 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án.
  • Huỷ quyết định Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đào Văn B.
  • Giao bị cáo Đào Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Trong thời gian thử thách nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ công dân từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể chuyển án treo thành án giam buộc bị cáo phải thi hành.
  • Trường hợp trong thời gian thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì Cơ quan thi hành án hình sự thực hiện Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Trả lại anh Đỗ Văn Đ2 số tiền 279.440.000 đồng (hai trăm bẩy mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
  • Trả lại bị cáo Phùng Văn M số tiền 14.560.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước các tài sản sau:

  • 01 (một) điện thoại IPHONE 13 Pro màu ghi xám, số IMEI: 350017080479082.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Pay đã qua sử dụng, số IMEI: 350962378781154, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG M21 vỏ ngoài màu đen, số IMEI1: 355263112611269, IMEI2: 355264112611267, số seri: R58NC43EKNN, bên trong lắp 02 SIM điện thoại số 8984048000901714149 và 8401220524028761, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu xanh dương, số IMEI1: 860202042445198, số IMEI2: 860202042445180, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu trắng hồng, đã qua sử dụng. Số IMEI 1: 865676031473706, IMEI 2: 865676031473698, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A02S màu trắng, số IMEI: 352845143299792, số IMEI2: 353051563299797, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc chìa khóa bằng kim loại màu bạc in dòng chữ "SOLEX"; 01 quyển sổ màu nâu, kích thước 15x10cm.

Trả lại bị cáo Yoo Ju H1 01 (một) Hộ chiếu số M17553180 và 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S1, tên thiết bị: Tap A (8.0", 2019), kiểu máy: SM-T295N, số seri: R9WR40VZBDJ, số IMEI: 3571891032260656, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Choi Gi T2 01 (một) Hộ chiếu số M856A7733.

(Đặc điểm tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2024 và Uỷ nhiệm chi lập ngày 03/12/2024 giữa Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H với Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Yoo Ju H1, Choi G, Phùng V, Phùng Văn M, Đỗ Văn Đ và Đào Văn B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - UBND xã Quang Hưng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 12 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger