|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày 21-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Khanh; Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 323/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/HSST-QĐ ngày 24/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phước T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 79/i5-i6 đường Â, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: B đường V, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước T1 và bà Dương Thị Bạch N; vợ là Nguyễn Thị Minh N1; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2024; có 01 tiền án (Năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 86/2009/HS-ST ngày 19/3/2009, bị cáo chưa thi hành phần án phí; không có tiền sự).
Nhân thân:
- - Năm 2006, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 40/2006/HS-ST ngày 23/02/2006, chấp hành án xong ngày 27/10/2006;
- - Năm 2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 214/2011/HS-ST ngày 22/11/2011, chấp hành án xong ngày 16/6/2019.
Ngày 09/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra lệnh bắt Nguyễn Phước T để tạm giam về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, T không có tại địa phương. Ngày 24/11/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra thông báo Quyết định truy nã. Ngày 22/7/2024 Nguyễn Phước T bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1973
Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02 năm 2023, Đỗ Đức M bắt đầu hoạt động cho vay tiền lấy lãi. Ngày 14/5/2023, M cho bà Nguyễn Thị Thanh T2 vay số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, theo hình thức vay trả góp trong thời gian 31 ngày. Do bà T2 không có khả năng góp tiền tiếp nên kêu M giảm tiền lãi vay thì M không đồng ý, hai bên xảy ra mâu thuẫn. Đến ngày 02/6/2023, M thuê Nguyễn Phước T đến tạt sơn nhà bà T2, tại địa chỉ A ấp T, xã T, huyện H để gây áp lực, buộc bà T2 phải trả tiền, Thông đồng ý. M thỏa thuận trả cho Thông số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng, M chuyển khoản cho T trước 100.000 (một trăm nghìn) đồng, còn 1.000.000 (một triệu) đồng sau khi tạt sơn xong sẽ trả. M gửi hình ảnh, địa chỉ nhà bà T2 qua tin nhắn Z cho T. Đến chiều ngày 02/6/2023, T đến nhà Phan Hoàng T3 rủ T3 đi tạt sơn nhà bà T2, hứa trả công cho T3 số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng thì T3 đồng ý. Nguyễn Phước T mua sẵn một hộp sơn bằng kim loại (loại 01kg) bên trong có đựng sơn màu đỏ dạng lỏng.
Đến khoảng hơn 22 giờ 00 phút cùng ngày, T đón xe ôm đến nhà T3, rồi T3 đưa xe gắn máy hiệu Wave màu trắng, biển số 51Y2-6575 cho T điều khiển chở T3, cả hai cùng nhau đi đến nhà bà T2. Khi đi đến gần nhà bà T2, T nói T3 tạt sơn xuống trước sân nhà bà T2. Rồi T cầm điện thoại bằng tay trái quay clip, tay phải điều khiển xe chở T3 chạy chậm ngang nhà bà T2 để T3 ngồi sau cầm hộp sơn tạt xuống trước sân nhà bà T2, còn T quay clip lại rồi tăng ga chở T3 bỏ chạy thoát. Trên đường bỏ chạy, T gửi clip qua Zalo cho M. M xem xong nói tạt sơn chưa đạt, phải tạt sơn thẳng vào trong nhà. T không đồng ý nên M nói vậy quay lại tạt sơn nhà bán bún của bà Huỳnh Thị H, địa chỉ A Đ, ấp T, xã T, huyện H, T nói với T3 thì T3 đồng ý, T hứa trả tiền công cho T3 500.000 (năm trăm nghìn) đồng. Rồi M gửi hình ảnh, địa chỉ nhà bà H qua Z cho T, cả hai quay lại nhà bà H, T3 cầm hũ sơn tạt trúng cửa rào của nhà bán bún, T dùng điện thoại di động quay clip, rồi chở T3 bỏ chạy thoát. Sau đó, T gửi clip qua Zalo cho M. M xem xong nói tạt sơn vẫn chưa đạt nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. M chặn liên lạc và không trả tiền cho T. Đến chiều ngày 05/6/2023, T tự lấy tiền của mình ra đưa cho T3 600.000 đồng là tiền công về việc tạt sơn, còn thiếu lại T3 400.000 đồng.
Sau khi phạm tội, T bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, đến ngày 22/7/2024 T bị bắt theo Quyết định truy nã.
Kết luận Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H số 124/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 8 năm 2023:
- - Chi phí khắc phục chùi rửa: 01 nền sân đá hoa (gạch men) kích thước 6mx2,5m; 01 tủ nướng bánh mì kích thước 1,6mx2,2m; 01 tủ kính đựng bánh mì kích thước 0,8mx1,2m là 1.000.000 (một triệu) đồng;
- - 300 ổ bánh mì loại nhỏ: 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng;
- - 25 kg bột mì đã ủ: 550.000 (năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
Tổng cộng 2.000.000 (hai triệu) đồng.
Vật chứng của vụ án và phần dân sự đã được giải quyết tại Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định khởi tố Nguyễn Phước T về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Quá trình điều tra, Nguyễn Phước T khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 289/CT-VKS-HS ngày 21/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017), sau đây được viết là Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố phát biểu:
- * Qua thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Phước T tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội danh và khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
- * Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Nguyễn Phước T có nhân thân xấu. Sau khi phạm tội, T bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, đến ngày 22/7/2024 T bị bắt theo Quyết định truy nã.
- - 01 tiền án: Năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 86/2009/HS-ST ngày 19/3/2009, bị cáo chưa thi hành phần án phí;
- - Năm 2006, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 40/2006/HS-ST ngày 23/02/2006, chấp hành án xong ngày 27/10/2006;
- - Năm 2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 214/2011/HS-ST ngày 22/11/2011, chấp hành án xong ngày 16/6/2019.
Bị cáo không có tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- * Về hình phạt: Áp dụng Điều 38 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 22/7/2024.
- * Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
Đối với Đỗ Đức M và Phan Hoàng T3 đã bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử tại Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/6/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Nguyễn Phước T thừa nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Ngày 02/6/2023, tại địa chỉ A ấp T, xã T, huyện H, Nguyễn Phước T cùng với Đỗ Đức M, Phan Hoàng T3 có hành vi tạt sơn làm hư hỏng tài sản trị giá 2.000.000 (hai triệu) đồng của bà Nguyễn Thị Thanh T2. Do đó, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi bị cáo biết rõ hành vi của mình là phạm tội, sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- - Bị cáo không có tiền sự; có nhân thân xấu. Ngày 09/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra lệnh bắt Nguyễn Phước T để tạm giam về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, T không có mặt tại địa phương. Ngày 24/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo Quyết định truy nã. Ngày 22/7/2024 bị cáo Nguyễn Phước T bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam đến nay.
- + Năm 2006, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 40/2006/HS-ST ngày 23/02/2006, chấp hành án xong ngày 27/10/2006;
- + Năm 2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 214/2011/HS-ST ngày 22/11/2011, chấp hành án xong ngày 16/6/2019.
- + 01 tiền án: Năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 86/2009/HS-ST ngày 19/3/2009, bị cáo chưa thi hành phần án phí;
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật là đúng quy định.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội này, bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về hành vi vi phạm pháp luật và có 01 tiền án năm 2009 chưa thi hành xong. Sau khi phạm tội bị cáo T đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra phải thông báo Quyết định truy nã. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có khả năng tự cải tạo do đó để bảo đảm tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung, việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Đối với Đỗ Đức M và Phan Hoàng T3 đã bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử tại Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/6/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 22/7/2024.
- Vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 141/2024/HS-ST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- - Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Buộc bị cáo Nguyễn Phước T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
