Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST.

Ngày: 03-03-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Huệ
Ông Lê Hữu Tới.
Ông Nguyễn Danh Lơi

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Lê Hữu Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn H, tên gọi khác: Không - Sinh ngày 25 tháng 4 năm 1980; CCCD số: [...]; Cục cảnh sát, QLHC; Nơi sinh: Huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Trịnh Xuân P, sinh năm 1947 và bà: Phạm Thị K, sinh năm 1947; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Con: Có 3 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không .

Bị bắt tạm giam từ ngày 20/11/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị H1 – Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.

Địa chỉ: Căn hộ S, tầng A, Toà nhà CC3, Dự án nhà ở xã hội phường Q thành phố T. SĐT: 0986.215.xxx (Có mặt).

* Bị hại: Chị Lê Thu H2, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ C, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. SĐT: 0972.811.xxx (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian đầu năm 2022, Trịnh Văn H và chị Lê Thu H2, sinh năm 1981, trú tại tổ C, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội có quen biết, cùng làm ăn chung với nhau trong lĩnh vực môi giới bất động sản. Sau đó, H được chị Hoàng Thị H3, sinh năm 1980, trú tại phường Q, thành phố T (là bạn học) nhờ tìm người mua thửa đất số 621, tờ bản đồ số 20, diện tích 143m², địa chỉ tại thôn A, xã L, huyện H của chị, giá bán chị H3 đưa ra là 1.600.000.000 đồng, nhưng chị H3 yêu cầu người mua phải trực tiếp giao dịch với chị, H không được tự ý bán đất.

Do chơi chứng khoán, làm ăn thua lỗ và cần tiền để chi tiêu cá nhân nên H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 08/4/2022, H nhắn tin qua ứng dụng Zalo, đồng thời gửi hình ảnh mặt trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất của chị Hoàng Thị H3 cho chị H2 và anh Lê Văn Đ (là bạn trai chị H2) xem, Hải giới T bán với giá 1.380.000.000 đồng (một tỷ ba trăm tám mươi triệu đồng); nếu chị H2 đồng ý mua thì H sẽ bán cho nhưng phải chuyển số tiền đặt cọc trước là 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng). Tin tưởng vào thông tin thửa đất mà H đưa ra và thấy giá bán rẻ hơn so với thị trường nên chị H2 đồng ý mua. Ngày 08/4/2022, chị H2 đã sử dụng tài khoản cá nhân số [...] mở tại ngân hàng B chuyển đến số tài khoản 50510000134333 mở tại ngân hàng B của Trịnh Văn H số tiền 400.000.000 đồng để đặt cọc. Sau khi nhận được số tiền này, H hứa với chị H2 là sẽ đàm phán, trao đổi với chị H3 để bớt giá mua bán và thu thập các tài liệu, giấy tờ để làm thủ tục lập hợp đồng chuyển nhượng lô đất. Ngày 10/4/2022, tại cửa hàng của chị Lê Thu H2, địa chỉ tại đường P, phường Đ, thành phố T, chị H2 chuyển thêm cho H số tiền 100.000.000 đồng và yêu cầu H viết 01 “Hợp đồng đặt cọc kiêm giấy nhận tiền” với nội dung đến ngày 16/4/2022, H sẽ phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất này cho chị H2. Đến ngày 11/4/2022, chị Lê Thu H2 yêu cầu Trịnh Văn H chuyển các hình ảnh liên quan đến thửa đất gồm: mặt ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy tờ cá nhân chủ đất... để soạn sẵn hợp đồng chuyển nhượng thì H yêu cầu chị H2 phải gửi thêm 150.000.000 đồng để H trao đổi với chị H3 (chủ đất) và lấy các thông tin theo yêu cầu của chị H2. Chị H2 đồng ý và chuyển đủ số tiền 150.000.000 đồng cho H. Sau khi nhận tiền đặt cọc mua bán đất từ chị H2, H không liên lạc hay trao đổi gì với chị H3 về việc đã nhận đặt cọc mua bán thửa đất và chiếm đoạt chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 16/4/2022, chị Lê Thu H2 đến xã L, huyện H để làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất nhưng H lấy nhiều lý do để không thực hiện việc chuyển nhượng, chị H2 yêu cầu H phải trả lại số tiền đã nhận là 650.000.000 đồng. Đến ngày 17/4/2022, do không còn khả năng trả lại số tiền nhận đặt cọc, sợ chị H2 tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt của mình đến cơ quan pháp luật nên Trịnh Văn H đã tự soạn thảo 01 “Hợp đồng đặt cọc kiêm giấy nhận tiền” thỏa thuận bán thửa đất (kèm tài sản trên đất) số 280, tờ bản đồ số 17, diện tích 150m² tại thôn H, xã H, huyện H (là nhà ở của Trịnh Văn H), nhưng cũng không thực hiện. Sau

nhiều lần thúc giục H trả lại tiền hoặc chuyển nhượng tài sản (nhà ở) theo thỏa thuận nhưng không được, ngày 12/9/2022, chị Lê Thu H2 đã tố cáo hành vi của Trịnh Văn H đến Cơ quan Công an tỉnh T để giải quyết.

Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với chị Hoàng Thị H3, chủ sở hữu của thửa đất số 621, địa chỉ tại thôn A, xã L, huyện H xác định: chị H3 không ủy quyền cho H bán thửa đất, H không thông báo cho chị H3 biết việc chị H2 có đặt cọc tiền để mua đất của chị. (BL số 91-94)

Ngày 04/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trên các hợp đồng đặt cọc giữa Trịnh Văn H và Lê Thu H2.

Tại Bản Kết luận giám định số 3654/KL-KTHS ngày 24/10/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: chữ viết, chữ ký trên các hợp đồng là của Trịnh Văn H (BL số 46-47).

Về phần dân sự: Ngày 17/10/2022, Trịnh Văn H đã khắc phục toàn bộ số tiền 650.000.000 đồng cho chị Lê Thu H2. Chị H2 không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho H.

Vật chứng vụ án gồm 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen; IMEI: 35921907747331, số seri: F2LSL487HFYD của Trịnh Văn H.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 11/CT-VKS-P3 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trịnh Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • * Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo H từ 8 đến 9 năm tù; Thời gian chấp hành án được trừ thời hạn tạm giam.
  • * Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có, không có khả năng thi hành án nên đề nghị không áp dụng.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ cho bị hại nên không đề nghị giải quyết.
  • *Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước một điện thoại Iphone 7 Plus màu đen; IMEI: 35921907747331, số seri: F2LSL487HFYD theo biên bản giao nhận vật chứng số 70/2025/TV-CTHADS ngày 19/02/2025 giữa Phòng PC02 Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

  • * Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 về mức thu án phí, lệ phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • * Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Về tội danh thống nhất với quan điểm của Viện Kiểm sát.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bố mẹ là người có công với cách mạng, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà viện kiểm sát đã nghị, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và cộng đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, ở mức thấp nhất để sớm được về hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, người bào chữa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, truy tố và bị hại; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Vào tháng 4/2022, do cần tiền để chi tiêu cá nhân, lợi dụng được chị Hoàng Thị H3 nhờ làm môi giới bán thửa đất số 621, tờ bản đồ số 20, diện tích 143 m², địa chỉ tại thôn A, xã L, huyện H, Trịnh Văn H đã đưa thông tin gian dối bán thửa đất của chị H3 với giá là 1.380.000.000 đồng cho chị Lê Thu H2. H yêu cầu chị H2 phải đặt cọc 650.000.000 đồng và hứa hẹn đến ngày 16/4/2022 sẽ làm thủ tục chuyển nhượng. Chị H2 tin tưởng nên đồng ý mua và từ ngày 08/4/2022 đến ngày 11/4/2022 chị H2 đã đưa tiền mặt và chuyển khoản cho H tổng 650.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc của chị H2, H không trao đổi gì với chị H3 về việc bán thửa đất trên mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra những thông tin không có thật để lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân là có ý thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm vì tư lợi nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.

Động cơ và mục đích của bị cáo là muốn có tiền để chi tiêu, cá nhân nên đã phạm tội.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình có bố mẹ đẻ đều được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải xử phạt tù để giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và nhiều tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo. (Thời gian bị cáo bị tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt).

[4] Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có khả năng để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng hình phạt tiền, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, không buộc bị cáo phải bồi thường gì thêm.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Một điện thoại Iphone Iphone 7 Plus màu đen; IMEI: 35921907747331, số seri: F2LSL487HFYD. Trịnh Văn H dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp. Vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị về tội danh, hình phạt và bồi thường của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự .

*Tuyên bố bị cáo: Trịnh Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

*Xử phạt bị cáo: Trịnh Văn H 8 (T1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 20 tháng 11 năm 2024.

*Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung

*Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không buộc bị cáo Trịnh Văn H phải bồi thường gì thêm.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước Một điện thoại Iphone7 Plus màu đen; IMEI: 35921907747331, số seri: F2LSL487HFYD theo biên bản giao nhận vật chứng số 70/2025/TV-CTHADS ngày 19/02/2025 giữa Phòng PC02 Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo: Trịnh Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 BLTTHS.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 03 tháng 03 năm 2025).

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger