|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 42/2025/HS-ST. Ngày 09/6/2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Sĩ.
Ông Trương Văn Mên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đẳng, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/1978, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh.
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà: Không rõ họ và tên; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị D Hồ Thị T1, sinh năm 1979 (không đăng ký kết hôn); con có 01 người tên Dương Minh T2, sinh năm 2003; anh, chị, em ruột chỉ một mình bị cáo. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 10/01/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Bà Thạch Thị S1, sinh năm 1945. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Thạch Thị T3, sinh năm 1967 (con ruột bà Thạch Thị S1). Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng T4 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Chí T5, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
- Thạch Thị Bích N, sinh năm 2008. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho Thạch Thị Bích N: Bà Lê Thị N1, sinh năm 1973. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người làm chứng: Anh Thạch S2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt, không có lý do.
Người phiên dịch: Ông Kim Na R, nguyên cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện C. Có mặt.
Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa:
- - 01 máy tính bảng nhãn hiệu Masstel Tab 10A, màu xanh, đã qua sử dụng;
- - 01 loa kẹo kéo nhãn hiệu DAXO, màu đen, kích thước 01x0,49x0,8m, đã qua sử dụng cùng với 02 micro không dây, màu xám, không nhãn hiệu, được đựng trong túi vải màu đen, có khóa kéo;
- - 01 nhẫn kim loại màu vàng kích thước 2,0x1,7x2,5cm, trên nhẫn có đính 01 (một) hạt lớn màu tím và 08 (tám) hạt nhỏ màu trắng (Đã được niêm phong trong gói niêm phong số 824/C09B);
- - 01 nhẫn trơn tròn kim loại màu vàng, đường kính 02cm, rộng 0,5cm,bên trong nhẫn có chữ “LINH24k2.0999” (Đã được niêm phong trong gói niêm phong số 824/C09B);
- - Tiền Việt Nam 7.200.000 đồng (đã được niêm phong trong gói niêm phong số 103/2025/M).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo biết bà Thạch Thị S1, sinh năm 1945, cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, cách nhà bị cáo khoảng 50 mét sinh sống một mình nên bị cáo thường xuyên qua chơi và ngủ lại nhà bà S1. Khi ở cùng nhà bà S1, bị cáo quan sát thấy bà S1 đem nhiều trang sức là vàng ra kiểm đếm nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm vàng của bà S1 đem bán nhằm mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ ngày 30/11/2024 đến ngày 03/12/2024, bị cáo đã 03 lần lén lúc lấy trộm 06 chỉ vàng 24K (trị giá 49.530.000 đồng) và tiền Việt Nam 16.840.000 đồng của bà S1 cụ thể như sau:
Lần 01: Khoảng 08 giờ ngày 30/11/2024, trong lúc bị cáo tổ chức uống rượu, bia tại nhà bà S1. Bị cáo quan sát thấy bà S1 lấy vàng từ trong túi vải màu đỏ giấu trên đầu giường ngủ ra kiểm đếm. Bị cáo lợi dụng lúc bà S1 đi vào buồng trong nhà, bị cáo lén lúc đi lại đầu giường nơi bà S1 cất giấu vàng, lấy từ trong túi vải ra 01 chiếc nhẫn trơn loại vàng 24K, trọng lượng 05 (năm) chỉ, nhanh chóng bỏ vào túi quần rồi quay lại bàn tiếp tục ngồi uống rượu. Sau khi lấy trộm 01 chiếc nhẫn vàng của bà S1, bị cáo đem về nhà cất giấu rồi tiếp tục trở lại nhà bà S1 sinh hoạt bình thường nên bà S1 không phát hiện.
Lần 02: Khoảng 08 giờ sáng ngày 02/12/2024, bà S1 nhờ bị cáo chở đến chợ huyện C bán 02 chỉ vàng 24K được số tiền 16.460.000 đồng. Sau khi bán vàng xong, bị cáo chở bà S1 về nhà, bà S1 cho bị cáo số tiền 50.000 đồng, số tiền còn lại 16.410.000 đồng bà S1 để trên gối nằm ở giường đối diện giường ngủ, rồi đi vào trong buồng để thay quần áo. Lợi dụng bà S1 đi vào trong buồng, bị cáo lén lúc lấy trộm số tiền 16.410.000 đồng rồi đem về nhà cất giấu.
Lần 03: Khoảng 08 giờ ngày 03/12/2024, bị cáo thấy bà S1 đang ở trong buồng thay quần áo, phát hiện tiền rớt trước cửa ra vào cửa nhà tắm, bị cáo lấy kiểm đếm được số tiền 430.000 đồng, thấy áo của bà S1 treo trên sào, cạnh nhà tắm bị cáo lụt soát, tìm kiếm phát hiện trong túi áo có 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 01 chỉ, bị cáo lén lúc lấy vàng và tiền của bà S1 bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng đem về nhà cất giấu.
Phát hiện vàng và tiền trong nhà bị mất trộm, bà S1 hỏi bị cáo có lấy trộm không thì bị cáo chối cãi không thừa nhận, từ đó bị cáo không qua ngủ cùng nhà với bà S1. Đến ngày 07/01/2025, bà S1 kể lại sự việc mất trộm vàng và tiền cho con ruột là bà Thạch Thị Thanh N2, nghi ngờ bị cáo lấy trộm nên bà T3 đến Công an xã M trình báo vụ việc. Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 07/01/2025, biết vụ việc đã bị phát hiện, bị cáo đến Công an xã M, huyện C đầu thú và tự nguyện giao nộp một số tài sản do bị cáo phạm tội mà có.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL.HĐĐG ngày 08/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 05 (năm) chỉ vàng 24K tại thời điểm mất trộm xảy ra vào ngày 30/11/2024 có giá trị là 41.250.000 đồng; 01 (một) chỉ vàng 24K tại thời điểm mất trộm xảy ra ngày 03/12/2024 có giá trị là 8.280.000 đồng. Tổng giá trị vàng bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị là 49.530.000 đồng (Bút lục số 102-106).
Tổng giá trị vàng, tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại trị giá 66.370.000 đồng (Trong đó vàng trị giá là 49.530.000 đồng và số tiền là 16.840.000 đồng).
Đối với số vàng sau khi bị cáo lấy trộm của bà S1, bị cáo đem bán cho tiệm vàng tại chợ huyện C và nhờ người khác bán đi, mua lại nhiều lần. Trong đó, bị cáo cho ông Nguyễn Chí T5, trú tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh mượn 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 02 chỉ và tiếp tục đưa cho ông T5 số tiền 19.000.000 đồng để mua một loa kéo hát karaoke và một máy tính bảng hết 18.300.000 đồng, ông T5 còn giữ lại số tiền 700.000 đồng. Bị cáo đưa cho chị Lê Thị N1 và em Thạch Thị Bích N số tiền 32.000.000 đồng để mua dùm cho bị cáo 01 sợi dây chuyền vàng, sau đó bị cáo nhờ ông T5 bán đi, mua lại vàng khác nhiều lần. Số tiền còn lại bị cáo giữ để tiêu xài cá nhân.
Ngày 10/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội trộm cắp tài sản và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị cáo để phục vụ điều tra.
Đối với ông Nguyễn Chí T5, chị Lê Thị N1 và em Thạch Thị Bích N: Sau khi bán được vàng và số tiền do trộm cắp của bà S1 mà có được, bị cáo đưa tiền cho ông T5, chị N1, em N nhờ đi mua vàng, bán vàng dùm bị cáo nhiều lần và cho ông T5 mượn 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 02 chỉ. Khi đưa tiền và vàng bị cáo nói trúng số, mua bán bò mà có được nên ông T5, chị N1 và em N không biết tài sản này do bị cáo trộm cắp mà có, nên không có cở sở xử lý.
Trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại và người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị S1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt là 16.840.000 đồng và bồi thường 06 chỉ vàng 24K theo kết luận của Hội đồng định giá tại thời điểm chiếm đoạt là 49.530.000 đồng. Tổng số tiền bị hại yêu cầu bồi thường là 66.370.000 đồng.
- - Đối với ông T5 sau khi biết được 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 02 chỉ bị cáo cho mượn và số tiền 700.000 đồng còn dư sau khi mua loa hát karaoke do bị cáo phạm tội mà có, ông T5 tự nguyện giao nộp lại số tài sản nói trên để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS-HS, ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Hành vi phạm tội của bị cáo đúng bản Cáo trạng mô tả, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng mà thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa bị hại bà Thạch Thị S1 vắng mặt. Người đại diện hợp pháp cho bà S1 là bà Thạch Thị T3 trình bày: 06 chỉ vàng 24kra và số tiền 16.840.000 đồng do bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp của bà S1, bị cáo tự đến nhà bà S1 chung sống, lợi dụng bà S1 tuổi già, mắt nhìn kém, bị cáo nhìn thấy chỗ bà S1 cất tiền, vàng rồi mới lén lúc trộm cắp số tài sản nêu trên. Về trách nhiệm hình sự bà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bà S1 tổng số tiền 66.370.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Chí T5 trình bày: Ông có mượn 01 nhẫn vàng 24K trọng lượng 02 chỉ của bị cáo và bị cáo có đưa cho ông số tiền 19.000.000 đồng để mua một loa kéo hát karaoke và một máy tính bảng hết 18.300.000 đồng, ông còn giữ lại số tiền 700.000 đồng. Khi đưa tiền và vàng bị cáo nói trúng số, mua bán bò mà có được, chứ ông không biết tài sản này do bị cáo trộm cắp mà có. Ông đã giao nộp 02 chỉ 24K và số tiền 700.000 đồng cho Công an xử lý theo quy định pháp luật. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa bà Lê Thị N1 và chị Thạch Thị Bích N cùng trình bày: Bị cáo đưa cho bà N1 và chị N số tiền 32.000.000 đồng để mua dùm cho bị cáo 01 sợi dây chuyền vàng là có thật. Khi đưa tiền bị cáo nói trúng số, mua bán bò mà có được, chứ không biết số tiền này do bị cáo trộm cắp mà có, 01 sợi dây chuyền vàng đã mua và giao cho bị cáo nhận xong. Nay không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Nguyễn Văn Đ đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bà Thạch Thị S1 tổng thiệt hại tài sản số tiền 66.370.000 đồng. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Hồng T4 trình bày lời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Thống nhất bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS-HS, ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng. Xét thấy bị hại bà Thạch Thị S1 là dân tộc Khmer, bà đã 80 tuổi sức khỏe yếu, mắt nhìn kém, đi lại khó khăn, mỗi lần bà S1 đem vàng và tiền ra kiểm, đếm bị cáo đều nhìn thấy nơi cất giấu, sau đó bị cáo lén lúc 03 lần thực hiện trộm cắp tài sản là 06 chỉ vàng 24K và số tiền 16.840.000đ. Đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bà Thạch Thị S1 số tiền 66.370.500 đồng, về vật chứng đề nghị xử theo quy định của pháp luật. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận vào các ngày 30/11/2024; ngày 02/12/2024 và ngày 03/12/2024 bị cáo đã lén lúc trộm 06 chỉ vàng 24K (trị giá 49.530.000 đồng) và số tiền 16.840.000 đồng của bà S1, mục đích bán tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng bản Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Từ ngày 30/11/2024 đến ngày 03/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn T đã 03 lần lén lúc lấy trộm 06 chỉ vàng 24K (trị giá 49.530.000 đồng) và tiền Việt Nam 16.840.000 đồng của bà Thạch Thị S1 cụ thể như sau:
Lần 01 : Khoảng 08 giờ ngày 30/11/2024 bị cáo trộm 01 chiếc nhẫn trơn loại vàng 24K, trọng lượng 05 (năm) chỉ của bà Thạch Thị S1.
Lần 02: Khoảng 08 giờ sáng ngày 02/12/2024, bị cáo trộm số tiền 16.410.000 đồng của bà Thạch Thị S1.
Lần 03: Khoảng 08 giờ ngày 03/12/2024, bị cáo trộm số tiền 430.000 đồng và 01 chiếc nhẫn trọng lượng 01 (một) chỉ vàng 24K của bà Thạch Thị S1.
Phát hiện vàng và tiền bị mất trộm, bà Thạch Thị S1 hỏi bị cáo có lấy trộm không thì bị cáo chối cãi không thừa nhận. Đến ngày 07/01/2025, bà Thạch Thị S1 kể lại sự việc mất trộm vàng và tiền cho con ruột là bà Thạch Thị Thanh N2, nghi ngờ bị cáo lấy trộm nên bà T3 đến Công an xã M trình báo vụ việc. Đến khoảng 14 giờ ngày 07/01/2025 bị cáo đến Công an xã M, huyện C đầu thú và tự nguyện giao nộp một số tài sản do bị cáo phạm tội mà có.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL.HĐĐG ngày 08/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 05 (năm) chỉ vàng 24K tại thời điểm mất trộm xảy ra vào ngày 30/11/2024 có giá trị là 41.250.000 đồng; 01 (một) chỉ vàng 24K tại thời điểm mất trộm xảy ra ngày 03/12/2024 có giá trị là 8.280.000 đồng. Tổng giá trị vàng mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị là 49.530.000 đồng (Bút lục số 102-106).
Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại qua 03 lần trộm cắp tài sản trị giá là 66.370.000 đồng (trong đó vàng trị giá là 49.530.000 đồng và số tiền là 16.840.000 đồng).
Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe để tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất để nuôi sống bản thân và giúp ích gia đình, nhưng bị cáo không làm được việc này, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải qua lao động, bị cáo đã 03 lần lén lúc thực hiện hành vi trộm cắp vàng và tiền của bà Thạch Thị S1 với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 66.370.000 đồng, từ đó đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” và “phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên”, quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo giao nộp lại một phần tài sản để khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo tự nguyện ra đầu thú; bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bị cáo trình bày là con nuôi của bà S1, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn bà S1 kêu bị cáo về chung sống 01 nhà, lợi dụng bà S1 đã 80 tuổi, sức khỏe yếu, mắt nhìn kém, đi lại khó khăn, mỗi lần bà S1 đem vàng và tiền ra kiểm, đếm bị cáo nhìn thấy nơi cất giấu, sau đó đã lén lúc 03 lần thực hiện trộm cắp tài sản là vàng và tiền của bà Thạch Thị S1 mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi đáng lên án, gây ra sự bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây ra dư luận không tốt trong đời sống xã hội. Trong khoảng thời gian từ ngày 30/11/2024 đến ngày 03/12/2024 bị cáo liên tiếp 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà S1, giá trị tài sản mỗi lần bị cáo chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà S1, bà S1 đã trên 80 tuổi đây tiết tăng nặng tăng nặng “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên”. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Thạch Thị T3 là người đại diện hợp pháp cho bà Thạch Thị S1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản với tổng số tiền yêu cầu là 66.370.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Xét thấy sự thỏa thuận giữa người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
[3] Về xử lý vật chứng: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Masstel Tab 10A, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 loa kẹo kéo nhãn hiệu DAXO, màu đen, kích thước 01x0,49x0,8m, đã qua sử dụng cùng với 02 micro không dây, màu xám, không nhãn hiệu, được đựng trong túi vải màu đen, có khóa kéo; 01 nhẫn kim loại màu vàng kích thước 2,0x1,7x2,5cm, trên nhẫn có đính 01 (một) hạt lớn màu tím và 08 (tám) hạt nhỏ màu trắng (Đã được niêm phong trong gói niêm phong số 824/C09B); 01 nhẫn trơn tròn kim loại màu vàng, đường kính 02cm, rộng 0,5cm,bên trong nhẫn có chữ “LINH24k2.0999” (Đã được niêm phong trong gói niêm phong số 824/C09B); Tiền Việt Nam 7.200.000 đồng (đã được niêm phong trong gói niêm phong số 103/2025/M).
Xét thấy các vật chứng này do bị cáo trộm cắp vàng, tiền của bà S1 rồi đem vàng đi bán rồi mua lại các tài sản này mà có được, khi bị phát hiện ông Nguyễn Chí T5 cùng bị cáo tự nguyện giao nộp các vật chứng nêu trên để khắc phục hậu quả. Hội đồng xét xử quyết định giao các vật chứng này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
[4]. Về án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Văn T có nghĩa vụ nộp theo quy định của pháp luật.
[5]. Xét lời của Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Hồng T4 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 07 tháng 01 năm 2025.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 588, 589 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho bà Thạch Thị S1 số tiền 66.370.500 đồng (Sáu mươi sáu triệu, ba trăm bảy mươi nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên giao các vật chứng sau đây:
- - 01 máy tính bảng nhãn hiệu Masstel Tab 10A, màu xanh, đã qua sử dụng;
- - 01 loa kẹo kéo nhãn hiệu DAXO, màu đen, kích thước 01x0,49x0,8m, đã qua sử dụng cùng với 02 micro không dây, màu xám, không nhãn hiệu, được đựng trong túi vải màu đen, có khóa kéo;
- - 01 nhẫn kim loại màu vàng kích thước 2,0x1,7x2,5cm, trên nhẫn có đính 01 (một) hạt lớn màu tím và 08 (tám) hạt nhỏ màu trắng (Đã được niêm phong trong gói niêm phong số 824/C09B);
- - 01 nhẫn trơn tròn kim loại màu vàng, đường kính 02cm, rộng 0,5cm,bên trong nhẫn có chữ “LINH24k2.0999” (Đã được niêm phong trong gói niêm phong số 824/C09B);
- - Tiền Việt Nam 7.200.000 đồng (đã được niêm phong trong gói niêm phong số 103/2025/M).
Cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000 đồng.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 3.318.500 đồng (Ba triệu, ba trăm mười tám nghìn, năm trăm đồng) án phí.
6. Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thanh Lâm |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 02 năm 06 tháng tù
