|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 42/2025/HS-PT Ngày: 28 - 03 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Thanh.
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Đào Vi và Bà Thái Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số A đường T, thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 142/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Trịnh Minh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
- Bị cáo có kháng cáo:
Trịnh Minh H, sinh ngày 07/10/1967 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay thành phố H); nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh G, con bà Trần Thị T (đều đã chết); gia đình có 10 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ năm; vợ: Lê Thị Kim Á, sinh năm: 1974 (đã ly hôn); con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1999.
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình tại phường T, thị xã H, đi học văn hoá đến lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình làm ruộng. Từ tháng 3/1988 đến tháng 6/1991 tham gia nghĩa vụ quân sự tại đơn vị Đội 584 thuộc Bộ chỉ huy tỉnh đội Quảng Trị. Từ tháng 6/1991 trở về địa phương, lấy vợ và sinh sống cho đến ngày gây án. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, sau khi Trịnh Minh H và anh ruột là ông Trịnh K, đến nhà em ruột là Trịnh Quốc C ở gần nhà để ăn nhậu xong thì H và ông K đi về nhà thờ của cha mẹ, nơi H đang sinh sống để ăn cơm trưa. Ông K đưa cho H 50.000 đồng để đi mua 0,5 lít rượu và 02 gói thuốc lá Khánh Hội để ngồi tại nhà nhậu tiếp. Trong lúc uống rượu, giữa ông K và H phát sinh mâu thuẫn, cãi cọ, gây gổ nhau nên ông K bỏ lên gian nhà thờ để nằm nghỉ, còn H ngồi ở phòng khách nhà dưới tiếp tục uống rượu, sau đó đi lên gian nhà thờ gây gổ, chửi bới ông K rồi quay lại nhà dưới uống rượu tiếp.
Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, H lại đi lên gian nhà thờ đứng chửi bới và đòi đuổi ông K ra khỏi nhà nên ông K đã có lời qua tiếng lại với H. Do bực tức, H chạy xuống phòng ngủ dưới nhà lấy 01 con dao rựa dài 59cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen trắng (35x5cm); cán dao làm bằng gỗ dài 24cm có đường kính 3,5cm, dưới gầm giường xông lên đòi chém ông K, thấy vậy ông K liền chạy ra góc mái hiên cửa bên hông gian thờ lấy cây chổi đót cán tre để phòng vệ. Lúc này, H cầm cây dao rựa xông đến và chém ông K theo hướng từ trên xuống, ông K dùng tay trái đưa lên đỡ và chụp được lưỡi dao nhưng H kéo lại được cây dao và tiếp tục chém tiếp 2 - 3 cái về phía người ông K, ông K đưa tay ra đỡ nên đã bị thương tích chảy máu dẫn đến bất tỉnh. Thấy vậy, H cầm cây dao rựa đi vào phòng khách nhà dưới, dùng cây dao rựa chém vào bộ bàn ghế sa lông của mình và tự gây ra thương tích cho bản thân.
Hậu quả: ông Trịnh K bị thương tích được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện T1 từ ngày 16/5/2024 đến ngày 20/5/2024 thì ra viện.
Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 337/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trịnh Khải .
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 330-24/KLTTCT-GĐPY ngày 01/7/2014 của Trung tâm gám định y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận:
"1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
Vết thương phần mềm mặt sau cổ tay phải đứt nhiều gân duỗi và nhánh thần kinh quay đã phẫu thuật khâu nối hiện ảnh hưởng động tác duỗi các ngón: 13%.
Sẹo nhỏ cánh tay trái: 1%
Sẹo trung bình cẳng tay trái: 2%
Hai vết biến đổi da cẳng tay trái: 1%
Tổn thương khuỷu tay trái đã lành, không ảnh hưởng chức năng: 0%
Vết thương phần mềm gan bàn tay trái để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng: 2%
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh K tại thời điểm giám định là:18% (mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương cổ tay phải do vật sắc tác động theo hướng từ cổ tay đến cẳng tay phù hợp với tư thế chống đỡ.
Tổn thương cánh - cẳng - bàn tay trái do vật sắc tác động theo nhiều chiều hướng khác nhau./."
Ngày 26/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 338/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T giám định vết máu trên cây dao rựa thu được tại hiện trường.
Tại bản Kết luận số 452/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
V.1/ Trên cây dao rựa dài 59cm, có lưỡi làm bằng kim loại màu đen - trắng, cán làm bằng gỗ, ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 3 gửi giám định có dính máu người:
- Tại phần cán cây dao rựa thuộc nhóm B.
- Tại phần lưỡi cây dao rựa thuộc nhóm AB.
V.2/ Mẫu máu lòng ghi thu của ông Trịnh Minh H, sinh năm: 1967 gửi giảm định thuộc nhóm B.
V.3/ Mẫu máu lòng ghi thu của ông Trịnh K - sinh năm:1962 gửi giám định thuộc nhóm AB.
Vật chứng vụ án:
- 01 cây dao rựa dài 59cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, màu đen trắng dài 35cm, rộng 5cm; cán dao làm bằng gỗ dài 24cm, đường kính 3,5cm.
- 01 cây chổi đót, có cán làm bằng tre, màu vàng - mun, dài 92cm, đường kính 2,8cm; phần đầu chổi có kích thước (40x22cm), được cố định với cán chổi bằng dây nhựa, màu đỏ.
Về trách nhiệm dân sự.
Bà Trịnh Thị Diệu H1 đã chi trả chi phí điều trị, chăm sóc cho bị hại Trịnh K trong thời gian nằm viện gồm 8.783.897 đồng và không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên.
Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường về dân sự cho ông Trịnh K mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng trong vòng 36 tháng kể từ 16/5/2024. Bị cáo đã bồi thường được 2.000.000 đồng. Ông K không có yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã quyết định:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Trịnh Minh H.
Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích"; Xử phạt bị cáo Trịnh Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành mình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/11/2024, bị cáo Trịnh Minh H có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên cần xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Bị cáo Trịnh Minh H sau khi uống rượu cùng anh ruột đã gây gổ dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh ruột là Trịnh K tỉ lệ tổn hại sức khỏe là 18%; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác cần phải bị xét xử nghiêm theo qui định pháp luật. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là đã có xem xét đầy đủ, đúng mức không nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tài liệu, chứng cứ gì để xem xét nội dung kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Trịnh Minh H thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo và điều trị bệnh tật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nội dung kháng cáo bị cáo Trịnh Minh H trong thời hạn luật định được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Đã có cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, sau khi Trịnh Minh H và anh ruột là ông Trịnh K, đến nhà em ruột là Trịnh Quốc C ở gần nhà để ăn nhậu xong thì H và ông K đi về nhà thờ của cha mẹ, nơi H đang sinh sống để ăn cơm trưa. Ông K đã đưa cho H 50.000 đồng để đi mua 0,5 lít rượu và 02 gói thuốc lá Khánh Hội để ngồi tại nhà nhậu tiếp. Trong lúc uống rượu, giữa ông K và H phát sinh mâu thuẫn, cãi cọ, gây gổ nhau nên ông K bỏ lên gian nhà thờ để nằm nghỉ, còn H ngồi ở phòng khách nhà dưới tiếp tục uống rượu.
Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, Trịnh Minh H đi lên gian nhà thờ đứng chửi bới và đòi đuổi ông Trịnh K ra khỏi nhà nên ông K đã có lời qua tiếng lại với H. Do bực tức, H chạy xuống phòng ngủ dưới nhà lấy 01 con dao rựa dài 59cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen trắng (35x5cm); cán dao làm bằng gỗ dài 24cm có đường kính 3,5cmt thấy vậy ông K liền chạy ra góc mái hiên cửa bên hông gian thờ lấy cây chổi đót cán tre để phòng vệ. H cầm cây dao rựa xông đến và chém ông K theo hướng từ trên xuống, ông K dùng tay trái đưa lên đỡ và chụp được lưỡi dao nhưng H kéo lại được cây dao và tiếp tục chém tiếp 2 - 3 cái về phía người ông K gây thương tích được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện T1, cơ sở 2 từ ngày 16/5/2024 đến ngày 20/5/2024 thì ra viện.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 330-24/KLTTCT-GĐPY ngày 01/7/2014 của Trung tâm gám định y khoa - Pháp y tỉnh T, kết luận: “...xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh K tại thời điểm giám định là:18% (mười tám phần trăm)..."
Hành vi trên của bị cáo Trịnh Minh H đã bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử với tội danh “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao rựa là loại hung khí nguy hiểm gây tổn hại sức khỏe cho người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn thể hiện thái độ coi thường pháp luật; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội, nên cần phải bị xử lý nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trịnh Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, dưới mức thấp nhất khởi điểm khung hình phạt là đã có xem xét, đánh giá áp dụng đầy đủ chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật; phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo quy định của pháp luật không nặng.
Trong giai đoạn phúc thẩm bà tại phiên tòa, bị cáo không có tài liệu, chứng cứ gì mới để xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Trịnh Minh H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Minh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
[2]. Xử phạt bị cáo Trịnh Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
[3]. Về án phí hình sự: Bị cáo Trịnh Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 42/2025/HS-PT ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 42/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
