Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 42/2025/HS-PT

Ngày 11 tháng 4 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.

Các Thẩm phán:

  • - Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh;
  • - Bà Bùi Thị Bích Liễu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngô Thị Trúc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Nhật Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Nhật Q – Sinh ngày 07 tháng 11 năm 1999, tại: Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Á và bà Hà Thị M. Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T - Luật sư của Công ty L – thuộc Đoàn luật sư tỉnh K;

Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có 04 (bốn) bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23 tháng 8 năm 2023, Đào Anh T1, Vũ Thành H, Trần Tiến T2 và Vũ Thanh T3 tổ chức ăn nhậu tại nhà của Nguyễn Nhật Q ở thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình ăn nhậu, T2 kể chuyện bản thân có mâu thuẫn với một thanh niên tên K ở thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa rồi rủ T1 và H đi tìm đánh K thì được cả hai đồng ý. T1 điều khiển xe mô tô 79Z1-9872 của gia đình Q chạy về nhà lấy 01 con dao tự chế dài khoảng 1 mét, T2 lấy 01 cây rựa dài khoảng 0,5 mét để tại sân nhà Q. Sau đó, H điều khiển xe mô tô 79Z1-9872 chở T1 và T2 cầm theo hung khí nêu trên đến khu giãn dân thuộc thôn Đ, xã S tìm đánh K. Khi đến trước khu vực nhà của chị Trần Thị Ngọc B, nhóm T1 thấy vợ chồng chị B đang ngồi ăn uống phía trước sân cùng vợ chồng Trần Đình Ngọc K1, Mang T, Thái Anh K2, Mang Xuân N, Nguyễn Hoàng Phúc H1 và Trần Văn H2 nên H dừng xe lại trên đường liên thôn cùng T1 và T2 đi vào nhà chị B. T1 chửi thề và quát lớn hỏi: “Thằng nào là thằng K”, một số người trong nhóm chị B trả lời: “Không có ai là K ở đây” thì T1 cầm dao xông đến, nhóm chị B bỏ chạy. T1 cầm dao đập phá làm hư hỏng 01 bàn nhựa và 09 ghế nhựa của chị B đang để trước sân, tiếp đến T1 vào nhà K1 đập phá làm hư hỏng 02 tấm kính cửa đi, 01 nồi áp suất đa năng, 02 quạt điện và đập phá xe mô tô 79L2 – 6771 của H2. Sau đó, T1, T2 và H quay lại vị trí xe mô tô để về thì T1 thấy Mang Văn Đ đang dừng xe mô tô trên đường nên cầm dao chạy đến chỗ Đ. Đ thấy vậy bỏ chạy thì T1 cầm dao đuổi theo. Đ chạy được khoảng 3 - 4 mét thì té ngã nên T1 đuổi kịp, cầm dao chém 01 nhát trúng vào tay phải của Đ, Đ đứng dậy bỏ chạy về nhà của mình. T1 cầm dao quay lại chỗ H, T2 để H điều khiển xe chở về nhà Q. Trên đường đi, do không chú ý quan sát nên H điều khiển xe té ngã xuống đường làm cho T1 bị thương ở tay trái. Khi về lại nhà Q, thấy T1 bị thương và được T1 cho biết vừa đánh nhau nên T3 rủ T1 tiếp tục quay lại khu giãn dân ở thôn Đ tìm người đã đánh T1 để đánh lại, thì T1 đồng ý. T1 cầm theo 01 con dao tự chế cùng 01 cây rựa dài 01m ngồi phía sau xe mô tô biển số 79Z1-135.02 của gia đình Q để T3 điều khiển chở đi. Thấy T3, T1 đi nên Q điều khiển xe mô tô biển số 79N9-9872 chở T2 và H cầm theo 02 cây rựa dài khoảng 0,5 mét lấy tại sân nhà Q chạy theo sau. Khi đến khu giãn dân thuộc thôn Đ, xã S, T3 dừng lại cùng T1 xuống xe, T1 đưa cho T3 cây rựa đã mang theo trước đó. T3 vừa đi trên đường liên thôn vừa la hét: “Đứa nào đánh em tao ra đây”. T1 đi phía sau T3 thấy Mang Tuấn K3 đang đứng bên đường nên cầm dao chạy đến đuổi đánh nhưng K3 bỏ chạy được. T1 cầm dao vào nhà ông M1 Tấn Đ1 đập phá làm hư hỏng 02 kính cửa đi. Khoảng 10 phút sau, Q điều khiển xe mô tô chở T2 và H đến. Thấy Mang Văn Thuận và Đỗ Văn M2 đứng trên đường, H cầm rựa đuổi theo đánh T4 và M2 nhưng được Q can ngăn. Một lúc sau, phát hiện Công an xã S đến hiện trường giải quyết vụ việc nên nhóm T1 vứt bỏ hung khí, điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Riêng Đ bị thương được gia đình đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh K điều trị.

Ngày 18/9/2023, Mang Văn Đ có đơn yêu cầu khởi tố đối với Đào Anh T1 vì đã có hành vi gây thương tích đối với mình.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 689/23/KLTTCT-PYKH ngày 09 tháng 10 năm 2023, Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh K kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mang Văn Đ tại thời điểm giám định là 09%.

Tại Bản kết luận định giá số 21/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 4 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định tổng giá trị thiệt hại của các tài sản do Đào Anh T1 trực tiếp gây ra là 3.220.000 đồng (ba triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q 02 (hai) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về các tội “Gây rối trật tự công cộng”, “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, bị cáo Nguyễn Nhật Q có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Giảm hình phạt cho bị cáo, do có thêm tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là: bị cáo có cha đẻ là ông Nguyễn Á có nhiều thành tích được tặng thưởng Huân chương và B1 khen.

Trình bày lời bào chữa, bị cáo và Luật sư Nguyễn Văn T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, với các lý do: Bị cáo chỉ giữ vai trò thứ yếu, tham gia phạm tội ở mức độ hạn chế. Bị cáo có cha đẻ là người có nhiều thành tích trong quân đội. Bị cáo đã can ngăn không cho Vũ Thành H đánh các anh Mang Văn T4 và Đỗ Văn M2 làm giảm tác hại của tội phạm, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về thủ tục tố tụng:

Bị cáo Nguyễn Nhật Q kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

2. Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Nhật Q đã có hành vi giúp sức cho các bị cáo khác la hét, cầm hung khí đuổi đánh, đập phá tài sản của người khác tại khu vực giãn dân thuộc thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Hành vi đó của bị cáo đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn cần phải xử lý nghiêm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là phù hợp với pháp luật.

Tuy vậy, bị cáo chỉ là người đồng phạm với vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án. Tại hiện trường bị cáo còn can ngăn không để Vũ Thành H đánh các anh Mang Văn T4 và Đỗ Văn M2. Bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; có cha đẻ là ông Nguyễn Á có nhiều thành tích trong thời gian phục vụ trong Quân đội được tặng thưởng nhiều Huân chương, Bằng khen nên ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng, cấp phúc áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần giữ nguyên mức phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật Q,

Sửa một phần bản án sơ thẩm:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Nhật Q,
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q 02 (hai) năm tù, cho bị cáo được hưởng án treo, về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 11 tháng 4 năm 2025).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Nguyễn Nhật Q cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Nhật Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Nhật Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa (Phòng PC10);
  • - TAND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 42/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật Quang: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger