|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HS - PT Ngày 02 tháng 4 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
- Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và Bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình C, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 230/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXPT-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Đình C; sinh ngày 09/12/1971; nơi sinh: tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Số nhà E, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình U và bà Đỗ Thị M (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị Hương G (đã ly hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Năm 1998, phòng PC16 Công an tỉnh thái B ra bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố bị cáo về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Bản án số 102 ngày 08/6/1998 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình nêu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình quyết định đình chỉ điều tra đối với C. Xác minh tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình thể hiện không có hồ sơ lưu trữ liên quan đến đối tượng C.
- + Bản án số 91/2006/HSST ngày 28/7/2006 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt Nguyễn Đình C 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2008, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/6/2006, “ đã được xoá án tích”.
- + Quyết định số 2051/QĐ-UBND ngày 13/7/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh lao động xã hội, thời hạn 12 tháng, ngày 19/7/2012 chấp hành xong quyết định. Bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 02/9/2024 chuyển tạm giam đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2024, Nguyễn Đình C đi bộ từ nhà đến khu vực ngã ba đường T giao với đường L, thuộc địa phận phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine và 01 túi ma túy đá đều với giá 300.000 đồng mỗi loại. C cất số ma tuý vừa mua được rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày C đang đứng trước cửa số nhà E, đường N, tổ A, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phan Văn T và anh Bùi Duy K, C tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là gói Heroine và túi ma túy đá của C vừa mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Đình C không phát hiện thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 31/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu vật M1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,2368 gam. Mẫu vật M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3743 gam”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 230/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, đã quyết định:
- - Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- + Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- + Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/8/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 31/12/2024 bị cáo Nguyễn Đình C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo và cho rằng số ma tuý thu giữ không phải là của bị cáo mà do người khác mang đến nhà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình C làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo cho rằng số ma tuý bị thu giữ khi bắt quả tang không phải của bị cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, bản kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 31/8/2024 của phòng K1 Công an tỉnh B, biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 27/8/2024, tại khu vực trước cửa số nhà E, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Đình C có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3743 gam và 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2368 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân,
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình C: bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính song do ham chơi, thiếu ý thức rèn luyện đặc biệt là việc coi thường pháp luật nên bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo cho rằng số ma tuý bị cơ quan công an thu giữ không phải là của bị cáo do đó bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Toà án sơ thẩm xử phạt Nguyễn Đình C 02 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt, do vậy áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình C, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 230/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- 1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- 1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/8/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 02 tháng 4 năm 2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 42/2025/HS - PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 42/2025/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 42/2025/HS-PYT ngày 20/5/20215
