|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 42/2025/HNGĐ – ST Ngày: 30/5/2025 V/v “Ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trần Quốc Hay
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đại Hải
- Bà Trương Thị Diễm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Nhật – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025; giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Vắng mặt tại phiên toà, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- * Bị đơn: Ông Thái Thanh V, sinh năm: 1995: Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:
Bà và ông Thái Thanh V tự nguyện kết hôn năm 2019, được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Lý do bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông V là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được giải quyết. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông V ly hôn.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Minh T và ông Thái Thanh V có 01 con chung là Thái Minh T1, sinh ngày 08/01/2021. Bà T yêu cầu giao con cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Thái Thanh V vắng mặt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông V cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ý kiến của nguyên đơn, ý kiến đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông Thái Thanh V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T vắng mặt, tuy nhiên bà T có đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về nội dung vụ án
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ T2 và ông Thái Thanh V tự nguyện kết hôn năm 2021, được UBND phường C, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86, ngày 31/12/2019 nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống: Bà T2 xác định trong quá trình chung sống với nhau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được giải quyết. Qua xác minh tại địa phương không nắm rõ tình trạng hôn nhân của bà T2 và ông V; tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bà T2 và việc ông V từ chối đến Tòa theo triệu tập của Tòa án để giải quyết yêu cầu ly hôn của bà T2, cho thấy ông V không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T2 và ông V đã đến mức trầm trọng, có kéo dài để sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh T với ông Thái Thanh V.
[2.2] Về con chung: Bà T xác định giữa bà và ông V có 01 con chung là Thái Minh T1, sinh ngày 08/01/2021. Bà T yêu cầu Tòa án giao con cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.
Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Thực tế, cháu T1 đang sống cùng với bà T và được đảm bảo đầy đủ điều kiện sống và học tập. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T về việc giao con chung cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84, và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Khoản 4 Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Cẩm T3 được ly hôn với ông Nguyễn Xuân T4.
- Về con chung: Giao con chung là Thái Minh T1, sinh ngày 08/01/2021 cho bà Nguyễn Thị Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn. Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0005124 ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà T3 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Hay |
Bản án số 42/2025/HNGĐ – ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
