|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2025
“V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Mộng Trinh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hướng và bà Trần Thị Thu Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố Huế: Ông Trần Quốc Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1975; địa chỉ: TDP X, phường H, thị xã H, thành phố H. Có mặt.
Bị đơn: Ông Phạm H, sinh năm 1972; địa chỉ: TDP X, phường H, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày của nguyên đơn tại các bản tự khai và biên bản hòa giải, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
· Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường H, thị xã H, thành phố H) vào ngày 06/11/1995 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23/1995. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thời gian gần vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H uống rượu bia và đánh đập bà. Vợ chồng bà được Toà án hoà giải, khuyên nhủ nhưng chồng bà vẫn không
thay đổi, vẫn thường xuyên đánh đập gây gổ bà, không hề có thiện chí hàn gắn. Hiện nay bà và ông H đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nữa và giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Huấn .
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Phạm Thị T, sinh ngày 25/4/1996 và Phạm Thị T1 sinh ngày 12/7/2005. Hiện nay các con đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
- Bị đơn, ông Phạm H: Quá trình quyết vụ án, đã trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn đúng như bà D đã trình bày. Ông cho rằng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, có mâu thuẫn nhưng không đáng kể. Thời gian gần đây vợ chồng có lục đục, ông có uống rượu bia và gây gổ, đánh bà D một vài cái và nói những lời không hay với bà D. Ông cho rằng mình cư xử như vậy là sai, nhưng ông nghĩ cuộc sống gia đình như vậy cũng bình thường. Nay bà D có đơn xin ly hôn ông thì ông không đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Phạm Thị T, sinh ngày 25/4/1996 và Phạm Thị T1 sinh ngày 12/7/2005. Hiện tại các con đã lớn, đủ khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông H xác nhận vợ chồng tự thoả thuận, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 03/3/2025, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã lấy ý kiến của chị Phạm Thị T1, sinh ngày 12/7/2005; địa chỉ: TDP X, phường H, thị xã H, thành phố H, là con ruột của bà D và ông H, được biết: Quá trình chung sống chị T1 thấy tình hình ba mẹ chị không ổn, sống với nhau không được, chị mong Tòa giải quyết cho ba mẹ chị.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự;
Về tố tụng: Ông H vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không vì lý do bất khả kháng dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị D; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không giải quyết; về án phí: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn có địa chỉ sinh sống tại Tổ dân phố X, phường H, thị xã H, thành phố H, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 dù đã được triệu tập hợp lệ. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm H tự nguyện kết hôn, đúng pháp luật nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị D và ông Phạm H đã kéo dài và ngày càng trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung cùng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Phạm H không đồng ý ly hôn nhưng ông không có thiện chí cải thiện tình cảm và quan hệ vợ chồng mà có ý thức bỏ mặc. Xét việc bà D xin ly hôn ông Phạm H là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm H có 02 con chung tên là Phạm Thị T, sinh ngày 25/4/1996 và Phạm Thị T1 sinh ngày 12/7/2005. Con chung đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nên Toà án không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị D và ông Phạm H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[3] Về án phí ly hôn: Bà Nguyễn Thị D phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình:
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Phạm Huấn .
Về con chung: Con chung đã trưởng thành, Toà án không giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0001752 ngày 13/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Bà D đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mộng Trinh |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DIỆU-HUẤN
