1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân, bà Đình Thị Thanh Hải.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Đ; sinh ngày 15-11-1973; CCCD số: [...], cấp ngày 01-5-2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH.
- Bị đơn: Chị Lương Thị L; sinh ngày 01-12-1977; CCCD số: [...]; cấp ngày 01-5-2021; nơi cấp: Cục C về TTXH.
Cùng đăng ký thường trú: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 16-4-2025, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn Đ trình bày:
2
Về hôn nhân: Anh và chị Lương Thị L đăng ký kết hôn ngày 08-01-1999 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 3-2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề về kinh tế, chị L có những khoản nợ riêng mà anh không biết sử dụng vào việc gì. Khi anh hỏi thì chị L không giải thích được. Ngoài ra, chị L còn có những mối quan hệ không minh bạch, anh cảm nhận tính cách của chị L không thật thà khiến anh không tin tưởng chị L về mọi mặt. Anh đã cho chị L nhiều cơ hội nhưng chị L không thay đổi. Đến nay, bản thân anh vô cùng mệt mỏi và không muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa, quan trọng nhất là anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 06-11-2000 và cháu Lê Chung K, sinh ngày 04-4-2008.
Cháu N đã đủ 18 tuổi nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai ngày 29-5-2025, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lương Thị L trình bày:
Chị và anh Lê Văn Đ đăng ký kết hôn vào ngày 08-01-1999 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ có quan hệ ngoài vợ chồng với người phụ nữ khác. Điều này do chính anh Đoàn T nói ra nên chị mới biết nhưng chị không có tài liệu chứng minh. Bản thân anh Đ đi làm xa lại ghen ngược, cho là chị ở nhà có quan hệ bất chính với người khác nhưng thực tế chị không hề làm gì có lỗi với anh Đ. Trước đây, đúng là chị có thế chấp quyền sử dụng đất vay Ngân hàng để đầu tư xây dãy nhà trọ, đến nay đã trả nợ xong, việc này anh Đ cũng biết và cùng ký tên vào hợp đồng tín dụng nhưng anh Đ lại đi rêu rao là chị nợ nần để lấy tiền cho người khác. Từ đó, anh Đ thường xuyên đánh đập, chửi bới chị, cuộc sống chung vô cùng mệt mỏi. Chị vì nghĩ hai vợ chồng đều đã có tuổi và cũng vì không muốn ảnh hưởng đến tương lai của các con nên cố gắng nín nhịn, chỉ mong anh Đ thay đổi để vợ chồng chung sống hòa hợp, xây dựng kinh tế gia
3
đình. Đến nay, anh Đ khởi kiện xin ly hôn chị nhưng chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Đ vẫn còn, không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 06-11-2000 và cháu Lê Chung K, sinh ngày 04-4-2008.
Cháu N đã đủ 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu K, tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai ngày 29-5-2025, chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi được biết nguyện vọng của cháu K thông qua việc Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái lấy lời khai nên chị tôn trọng ý kiến của con về việc con muốn ở với anh Đ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, chị đề nghị giao cháu K cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc hòa giải không thành, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các quyền, nghĩa vụ của đương sự đã được đảm bảo.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Anh Lê Văn Đ được ly hôn chị Lương Thị L.
Về con chung: Giao cho anh Lê Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Chung K, sinh ngày 04-4-2008 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
4
Về quyền kháng cáo: Anh Lê Văn Đ và chị Lương Thị L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn chị Lương Thị L đăng ký thường trú tại tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Anh Lê Văn Đ và chị Lương Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 08-01-1999 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết, các đương sự đều thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do xuất phát từ sự thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa hai vợ chồng. Quá trình giải quyết, Tòa án đã kiên trì hòa giải, động viên nhưng anh Đ vẫn cương quyết xin ly hôn, chị L xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và không đồng ý ly hôn, mong muốn được đoàn tụ nhưng bản thân chị cũng thừa nhận chị không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ, cho anh Đ được ly hôn chị L.
[3] Về con chung: Anh Lê Văn Đ và chị Lương Thị L có 02 con chung là cháu Lê Thị Hồng N, sinh ngày 06-11-2000 và cháu Lê Chung K, sinh ngày 04-4-2008.
Cháu N đã đủ 18 tuổi nên anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu K, anh Đ và chị L đều đề nghị giao cháu K cho anh Đ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi. Xét đề nghị của anh chị là tự nguyện, không trái pháp luật và đồng thời cũng là phù hợp với nguyện vọng, mong muốn của cháu K nên đề nghị
5
của anh chị được chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh Đ và chị L đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định.
[6] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Anh Lê Văn Đ được ly hôn chị Lương Thị L.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Chung K, sinh ngày 04-4-2008 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Chị Lương Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Lê Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: [...] ngày 17-4-2025; người thu tiền: Công ty cổ phần T1; tên cơ quan đơn thu/Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái mã giao dịch/Mã tham chiếu: G22.99.7-250417229907. Anh Lê Văn Đ đã nộp đủ án phí. Chị Lương Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6
- Về quyền kháng cáo: Anh Lê Văn Đ và chị Lương Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Kim Anh |
7
8
9
10
11
12
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Anh Lê Văn Đ được ly hôn chị Lương Thị L. 2. Về con chung: Giao cho anh Lê Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Chung K, sinh ngày 04-4-2008 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Chị Lương Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Anh Lê Văn Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn
