TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27/6/2025
V/v “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lư Thành Danh.
2/ Bà Võ Thị Bích Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/4/2025 về việc “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 181/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Linh V, sinh năm 1987 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số B khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Phan Thanh N, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số B khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Dương Thị Linh V trình bày và yêu cầu: Bà và ông Phan Thanh N tự nguyện tìm hiểu và quen nhau sau đó tiến đến hôn nhân, có làm lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 03/3/2009. C sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, sau nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, hiện tại vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Phan Thanh N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống có 02 (hai) con chung gồm Phan Dương Trung K (nam), sinh ngày 27/4/2011 và Phan Dương Bảo K1 (nam), sinh ngày 24/12/2017, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông N tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn ông Phan Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 (hai) lần đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án trên theo quy định, cụ thể vào các ngày 08/5/2025 và ngày 26/5/2025, tuy nhiên ông N vắng mặt mà không có lý do. Cho nên, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Dương Thị Linh V và ông Phan Thanh N tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Long cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 32, ngày 03/3/2009, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên bà V có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông N, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Đối với bị đơn ông Phan Thanh N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với nguyên đơn bà Dương Thị Linh V có yêu cầu giải quyết vắng mặt, xét đây là quyền của đương sự và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân của bà V và ông N là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng.
Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau và nuôi dạy con chung, nhưng bà V và ông N không làm được điều này. Bà V cho rằng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với ông N, nếu gán ép, duy trì sẽ không mang lại hạnh phúc. Riêng đối với bị đơn ông N đã được Tòa án thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng vắng mặt mà không có lý do, không đưa ra ý kiến hay giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau, chứng tỏ ông N không còn tha thiết duy trì cuộc hôn nhân với bà V. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà V và ông N không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho bà V được ly hôn với ông N là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
- Về con chung:
Có 02 (hai) con chung là Phan Dương Trung K (nam), sinh ngày 27/4/2011 và Phan Dương Bảo K1 (nam), sinh ngày 24/12/2017; trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi trưởng thành, tại văn bản ý kiến ngày 27/02/2025 cháu Trung K và Bảo K1 có nguyện vọng sống với bà V. Xét thấy, để đảm bảo các điều kiện học tập, môi trường sống, cũng như nguyện vọng của con chung, nghĩ nên giao hai con chung cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp và có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được giải thích về cấp dưỡng nuôi con là vì lợi ích của con chung, nhưng bà V có ý kiến là không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của bà V, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Phan Thanh N theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung:
Bà V có ý kiến tự thoả thuận với ông N, không yêu cầu, riêng ông N vắng mặt, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
- Về nợ chung:
Bà V khai không có, không có yêu cầu, riêng ông N vắng mặt nên chưa được làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Dương Thị Linh V nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Thị Linh V được ly hôn với ông Phan Thanh N.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Phan Dương Trung K (nam), sinh ngày 27/4/2011 và Phan Dương Bảo K1 (nam), sinh ngày 24/12/2017; giao cháu Trung K và Bảo K1 cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, bà V không yêu cầu ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Phan Thanh N theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Bà V có ý kiến tự thoả thuận với ông N, không yêu cầu, riêng ông N vắng mặt, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
- Về nợ chung: Bà V khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng ông N vắng mặt nên chưa được làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Dương Thị Linh V nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004218 ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; bà V đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định./.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Linh |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG về xin ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
