TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 6 - 2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Đóa và bà Hoàng Hương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2025/TLST-HNGĐ ngày 26/5/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025; thông báo mở lại phiên tòa số 598/TB-TA ngày 25 tháng 6 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1988 - có mặt.
Nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Phạm Duy V, sinh năm 1984 - vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Phạm Duy V yêu nhau và quyết định đi đến hôn nhân. Vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày 23/02/2009 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do nhiều bất đồng và không có tiếng nói chung, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã đưa con về nhà ngoại sinh sống từ tháng 3/2024 đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không đi lại thăm hỏi hoặc quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh V và cảm thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Duy V.
Về con chung: Chị và anh Phạm Duy V có 03 con chung là Phạm Thị Bích N, sinh ngày 23/7/2013; Phạm Thị Thu H, sinh ngày 26/5/2017; Phạm Thị Thu P, sinh ngày 10/9/2009. Cháu N và cháu H hiện nay đang sống cùng với chị. Cháu P ở với anh V nhưng hiện nay cháu đã đi làm. Vợ chồng không có con nuôi, không ai có con riêng, hiện nay chị không mang thai. Theo đơn khởi kiện, chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu N và cháu H, giao cháu P cho anh V được nuôi dưỡng. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 12/6/2025, chị thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện về con. Cụ thể, chị xin được nuôi dưỡng cả ba con chung là cháu N, cháu H và cháu P, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, tại phiên tòa, chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung là cháu N và cháu H, giao cháu P cho anh V được nuôi dưỡng. Chị không yêu anh V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là anh Phạm Duy V vắng mặt nên không có lời trình bày. Anh V đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; thông báo mở lại phiên tòa nhưng anh V không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Kết quả xác minh tại UBND xã V: Chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Duy V có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Hiện nay chị V không sinh sống tại địa phương. Chị C và anh V có 03 con chung là Phạm Thị Bích N, Phạm Thị Thu H, Phạm Thị Thu P. Chị C hiện nay ở đâu làm gì địa phương không biết. Anh V hiện nay làm nghề đi biển, thu nhập như thế nào địa phương không rõ. Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh V và giải quyết về con chung đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà Đậu Thị T (mẹ đẻ anh Phạm Duy V) trình bày: Anh V là con trai của bà. Năm 2009, anh V kết hôn với chị C. Quá trình chung sống, hai vợ chồng thỉnh thoảng có xảy ra va chạm, cãi vả lẫn nhau. Thỉnh thoảng anh V uống rượu, vợ chồng xảy ra cãi vã căng thẳng. Vào tháng 7/2024, sau khi anh V uống rượu say thì giữa hai vợ chồng đã xảy ra cãi vã, chị C đã đưa hai người con nhỏ về nhà ngoại sinh sống từ đó đến nay không về. Hai bên gia đình và chính quyền địa phương đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay. Vợ chồng có 03 người con chung là Phạm Thị Bích N, Phạm Thị Thu H, Phạm Thị Thu P. Hiện nay cháu N và cháu H đang ở với chị C còn cháu P đang ở với anh V và bà nhưng đã đi làm. Nay chị C làm đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với anh V thì bà có ý kiến như sau: Nếu hai vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau thì nên giải quyết cho ly hôn. Về con chung, nên giao 02 con nhỏ là cháu N và cháu H cho chị C được nuôi dưỡng, giao cháu P cho anh V được nuôi dưỡng để có người quan tâm, chăm sóc, hỏi han. Về ý kiến của anh V thì anh V mong muốn hai vợ chồng được đoàn tụ. Nếu phải giải quyết ly hôn thì anh cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu P. Hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau. Hiện nay anh V đang đi câu ngoài biển, thời gian không đi biển thì anh V sống cùng nhà với bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, 39 và Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ; Điều 147, 227 BLTTDS, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
+ Về tình cảm: Cho Nguyễn Thị C được ly hôn anh Phạm Duy V.
+ Về con chung: Giao con chung là Phạm Thị Bích N, sinh ngày 23/7/2013; Phạm Thị Thu H, sinh ngày 26/5/2017 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Giao con chung là Phạm Thị Thu P, sinh ngày 10/9/2009 cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh V và chị C do có ai không yêu cầu.
+ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
+ Về án phí: Áp dụng Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/02016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Duy V đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã V, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn là anh Phạm Duy V đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp; Thông báo phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; thông báo mở lại phiên tòa nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh V.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Duy V là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình giải quyết có căn cứ thể hiện trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng tình cảm bình thường; sau đó phát sinh mâu thuẫn do nhiều bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Tòa án đã nhiều lần báo anh V lên Toà án để tham gia phiên hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh V không hợp tác và đều vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh V ngày càng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cho chị C được ly hôn với anh Phạm Duy V.
[4] Về con chung: Chị C và anh V có 03 con chung là Phạm Thị Bích N, sinh ngày 23/7/2013; Phạm Thị Thu H, sinh ngày 26/5/2017; Phạm Thị Thu P, sinh ngày 10/9/2009; vợ chồng không có con nuôi. Ly hôn chị C có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung là cháu N và cháu H; đền N1 giao cháu P cho anh V được nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng nuôi con của chị C là phù hợp vì hiện nay cháu N và cháu H đang ở với chị C, cháu P đang ở cùng với anh V. Đây cũng là nguyện vọng của gia đình anh V. Vì vậy, cần giao cháu N và cháu H cho chị C được nuôi dưỡng; giao cháu P cho anh V được nuôi dưỡng là phù hợp.
Do chị C và anh V đều không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh V và chị C. Chị C và anh V đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
[5] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không ai yêu cầu nên miễn xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Phạm Duy V.
- Về con chung:
Giao con chung là Phạm Thị Bích N, sinh ngày 23/7/2013; Phạm Thị Thu H, sinh ngày 26/5/2017 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Giao con chung là Phạm Thị Thu P, sinh ngày 10/9/2009 cho anh Phạm Duy V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Duy V và chị Nguyễn Thị C do chị C và anh V không yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Duy V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 00001775 ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại LINK "21" \o "Điều"Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Mạnh |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C Bị đơn: Phạm Duy V
