Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HNGĐ - ST

Ngày 27/6/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Là
  2. Ông Nguyễn Hữu Hiển

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết H - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2025, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1999
  • Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
  • Nơi ở hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
  • - Bị đơn: Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1996
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
  • (Tại phiên tòa vắng mặt chị Lan A, anh H1. Chị Lan A có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lan A trình bày: Chị và anh Bùi Văn H1 kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 21/8/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh Bùi Văn H1.

Về con chung: Chị và anh Bùi Văn H1 có 01 con chung là Bùi Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 28/10/2016. Ly hôn chị xin nuôi con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn là anh Bùi Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để trình bày. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và xác minh với gia đình anh H1 thì được mẹ anh H1 là bà Nguyễn Thị H2 cung cấp: Gia đình có nhận được thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án gửi cho anh H1 và đã thông báo toàn bộ nội dung các văn bản trên cho anh H1. Anh H1 đã biết việc chị Lan A xin ly hôn anh H1 tại Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng. Chị Lan A xin ly hôn, anh H1 có ý kiến là anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh H1 và chị Lan A có 01 con chung là Bùi Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 28/10/2016, đề nghị Toà án giao con cho anh H1 nuôi dưỡng, anh H1 không yêu cầu chị Lan A cấp dưỡng nuôi con cùng anh. Về tài sản, chị Lan A và anh H1 không có tài sản chung. Anh H1 thường xuyên liên lạc với bà và thường xuyên về thăm bà.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Lan A đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn - anh Bùi Văn H1 không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lan A: Xử cho chị Lan A được ly hôn anh Bùi Văn H1. Về con chung: Đề nghị xử giao con chung Bùi Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 28/10/2016 cho chị Nguyễn Thị Lan A được trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, chị Lan A không yêu cầu Toà án giải quyết nhưng chưa có lời khai của anh H1 về vấn đề này, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị Lan A và anh H1

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Bùi Văn H1 có nơi thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lan A có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị Lan A, anh H1.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lan A kết hôn với anh H1 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 21/8/2017 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Chị Lan A xin ly hôn, anh H1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để làm việc. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thì quá trình chung sống chị Lan A và anh H1 có mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị Lan A xin ly hôn anh H1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy, chị Lan A và anh H1 đã sống ly thân từ năm 2020, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan A và anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lan A xử cho chị Lan A được ly hôn anh H1 là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị Lan A và anh H1 có 01 con chung là Bùi Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 28/10/2016. Ly hôn chị Lan A xin nuôi con, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh H1 không đến Toà án trình bày nguyện vọng của anh về con khi giải quyết ly hôn, cháu Bảo A1 có nguyện vọng xin được ở cùng bố và mẹ. Ủy ban nhân dân xã Đ đề nghị Tòa án giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật. Vì vậy, cần giao con chung Bùi Nguyễn Bảo A1 cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị Lan A không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là tự nguyện cần chấp nhận. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết và chưa có lời khai của anh H1 về vấn đề này, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị Lan A và anh H1.

[3]Về án phí: Chị Lan A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Chị Lan A và anh H1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn anh Bùi Văn H1.
  2. Về con chung: Xử giao con chung Bùi Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 28/10/2016 cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lan A không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Lan A đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001985 ngày 22/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lan A, anh H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơinhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Đương sự, UBND xã Đông La;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Lan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HNGĐ - ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 42/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị A - anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger