TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trường Thống
- 2. Ông Đào Hoàng Khương
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/3/2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 102/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1982 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Vĩnh Trinh, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang
Địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và trong quá trình xét xử, nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:
Bà và ông Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi nhau và mâu thuẫn ngày càng nhiều không thể khắc phục được nên đã ly thân nhau nhiều năm nay.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trần Kim T, sinh ngày 21/10/2002.
Về tài sản: Vợ chồng không tài sản chung.
Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
- - Về con: Con đã trưởng thành và tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về tài sản: Không có, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn bà Trần Thị P vẫn giữa nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.
- - Bị đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt lần thứ hai, không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- - Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa xét xử.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề cụ thể như sau, về quan hệ hôn nhân: cho bà Trần Thị P ly hôn với ông Nguyễn Văn B; về quan hệ nuôi con chung: con đã thành niên, tự lao động, sinh sống được và các đương sự không tranh chấp nên đề nghị không xem xét; về quan hệ tài sản chung và về nợ chung: không có, không tranh chấp nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo cho bị đơn biết và quy định thời gian để bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “ly hôn” của nguyên đơn. Nhưng bị đơn không có ý kiến gì và cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Do đó, Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau đó Tòa án nhận được đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải của nguyên đơn. Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “.....Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải”.
Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên HĐXX phải hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa để mở phiên tòa xét xử lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị P không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn B theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn B tự nguyện lấy nhau làm vợ chồng, đủ tuổi, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn V cấp giấy chứng nhận kết hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông B là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại các điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà P thấy rằng: Theo bà P trình bày cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và ngày càng nhiều không thể khắc phục được và thực tế vợ chồng đã ly thân nhau. Tại phiên tòa hôm nay, bà P vẫn cương quyết ly hôn với ông B. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và cho đến tại phiên tòa hôm nay, ông B không đến Tòa án để trình bày ý kiến, không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên tòa xét xử mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng.
Qua kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thì giữa bà P và ông B đã xảy ra mâu thuẫn nhiều lần và ly thân nhau (bút lục số 21).
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông B không khả năng đoàn tụ, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P đối với ông B theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về quan hệ nuôi con chung: Theo bà P xác định vợ chồng có 01 đứa con chung tên Nguyễn Trần Kim T, sinh ngày 21/10/2002, hiện đã thành niên và tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu giải quyết.
Nội dung này đã được Tòa án nêu rõ trong thông báo thụ lý vụ án và đã tống đạt hợp lệ cho ông B, nhưng ông B vẫn không có ý kiến phản bác gì đối với ý kiến của bà P nêu ra và cũng không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, cháu Nguyễn Thị Kim T1 đến nay đã thành niên và tự lao động, sinh sống được. Hơn nữa, các đương sự không tranh chấp, yêu cầu giải quyết gì nên HĐXX không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Theo bà P, vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bà P về tài sản chung và nợ như trên, Tòa án đã nêu trong Thông báo về việc thụ lý vụ án để ông B biết, nhưng đến nay ông B không có ý kiến gì phản bác ý kiến của bà P và cũng không có yêu cầu gì khác. Như vậy, khi Tòa án giải quyết vụ án này thì các đương sự (bà P, ông B) không có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ, do đó HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị P có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị P ly hôn ông Nguyễn Văn B.
- Về quan hệ nuôi con chung: Không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002618 ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; bà P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/5/2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Mỹ Linh |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: 1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị P ly hôn ông Nguyễn Văn B. 2 - Về quan hệ nuôi con chung: Không xem xét. 3 - Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Không xem xét. 4 - Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002618 ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; bà P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/5/2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
