TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 12 - 2025
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Văn Tuyển và ông Chu Văn Kiêm
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Hồng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Đỗ Thị T sinh năm 1982; địa chỉ: thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng (địa chỉ cũ: thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương).
- - Bị đơn: anh Đỗ Văn Đ sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: thôn X, xã Đ, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ: thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình) đã xuất cảnh ra nước ngoài, không biết địa chỉ.
Tại phiên tòa: chị Đỗ Thị T và anh Đỗ Văn Đ đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/10/2024 nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh Đỗ Văn Đ kết hôn ngày 30/01/2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh chị kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn, chị T và anh Đ sinh sống cùng bố mẹ đẻ anh Đ là ông Đỗ Văn T1 và bà Trần Thị G tại thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình được khoảng 8 tháng. Do công việc của anh Đ nên chị T đã chuyển đến thành phố Hải Phòng chung sống cùng anh Đ được 4 năm thì chị chuyển về Ninh Bình sinh sống và làm việc. Thời gian này, anh Đ vẫn thường xuyên về thăm chị T. Tuy nhiên anh Đ đam mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, tất cả tiền làm được anh đều chơi cờ bạc hết. Vì vậy, sau khi trở về tỉnh Ninh Bình ở được khoảng 2 năm chị T chuyển về tỉnh Hải Dương sinh sống và không còn liên lạc gì với anh Đ từ đó cho đến nay. Năm 2022 anh Đ đi lao động ở nước ngoài và chưa về nước. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị không thể tiếp tục. Vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ.
Về con chung: chị Đỗ Thị T và anh Đỗ Văn Đ có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc Q sinh ngày 21/10/2007, hiện nay đang ở cùng chị T. Đề nghị Tòa án giao cháu Q cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Về việc phân chia tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 22/9/2025 và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ chị T trình bày: đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì con chung của chị và anh Đ đã trên 18 tuổi, cháu hoàn toàn khỏe mạnh và có khả năng lao động. Do đó việc nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi vợ chồng chị ly hôn, cháu Q muốn ở với ai là quyền của cháu. Do đó, Chị T xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ. Về việc nuôi con, phân chia tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đỗ Văn Đ: Tòa án đã có văn bản đề nghị xác minh tại Phòng Q1 Công an tỉnh N, kết quả anh Đ đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 26/02/2024, chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi cho thân nhân của anh Đ và niêm yết công khai: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đến phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa và đã thông báo trên kênh VOV5 Đ1; trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cho đến khi xét xử Tòa án không nhận được văn bản ghi ý kiến của anh Đ đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Anh Đ không tham gia tố tụng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Biên bản xác minh ngày 28/3/2025 Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình cung cấp: anh Đỗ Văn Đ và chị Đỗ Thị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, anh Đ và chị T không thường xuyên sinh sống tại địa phương nên chính quyền địa phương không nắm được về đời sống chung cũng như mâu thuẫn của vợ chồng anh chị. Khoảng năm 2019 anh Đ đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, đến năm 2023 về nhà một thời gian, sau đó lại tiếp tục đi lao động ở nước ngoài cho đến nay. Anh Đ không cung cấp và không thông báo nên chính quyền địa phương không biết địa chỉ cụ thể của anh Đ. Chị T và anh Đ có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc Q, hiện nay không sinh sống tại địa phương.
Tại Biên bản xác minh ngày 28/3/2025 bà Trần Thị G là mẹ đẻ của anh Đ cung cấp: anh Đ đi lao động tại C từ năm 2019, đến cuối năm 2023 về chơi với gia đình và tháng 02 năm 2024 anh Đ tiếp tục sang C lao động cho đến nay. Gia đình chỉ biết anh Đ đang lao động tại C còn địa chỉ cụ thể gia đình không biết nên không thể cung cấp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị T theo quy định của pháp luật.
Tại đơn trình bày nguyện vọng cháu Đỗ Ngọc Q là con đẻ của chị T và anh Đ trình bày: nguyện vọng của cháu muốn được ở với mẹ là chị T vì chị T là người quan tâm chăm sóc cháu nhiều hơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28 và các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 469, 470, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị T, giải quyết cho chị Đỗ Thị T và anh Đỗ Văn Đ ly hôn.
- - Về án phí sơ thẩm: chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị T đang cư trú tại thành phố Hải Phòng. Bị đơn anh Đỗ Văn Đ đã xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không xác định được địa chỉ. Nơi cư trú cuối cùng của anh Đ tại thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình nay là thôn X, xã Đ, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị T thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi cho thân nhân của anh Đ và niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo trên kênh VOV5 Đài tiếng nói Việt Nam và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng anh Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Chị Đỗ Thị T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Đỗ Thị T và bị đơn anh Đỗ Văn Đ.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: trước khi kết hôn chị Đỗ Thị T và anh Đỗ Văn Đ được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Do đó quan hệ hôn nhân của chị T và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ.
Từ năm 2014 cho đến nay chị T và anh Đ sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh Đ đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đã vi phạm quyền, nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về việc nuôi con: chị Đỗ Thị T và anh Đỗ Văn Đ có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc Q sinh ngày 21/10/2007. Tính đến ngày mở phiên tòa, cháu Đỗ Ngọc Q đã trên 18 tuổi và hoàn toàn khỏe mạnh, có khả năng lao động. Do đó trong bản án này Tòa án không giải quyết về việc nuôi con sau khi chị T và anh Đ ly hôn.
[2.3] Về tài sản: các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Đỗ Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án; được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị T đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 40, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 464, Điều 469, Điều 470, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị T về việc ly hôn, giải quyết cho chị Đỗ Thị T ly hôn với anh Đỗ Văn Đạt Đ.
- Về án phí sơ thẩm: chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000083 ngày 23/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn chị Đỗ Thị T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn anh Đỗ Văn Đ được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tử Lượng |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn có đương sự ở nước ngoài
