|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Nhân.
- Bà Trần Vĩnh Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên tòa: Ông Tạ Bá Nhìn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1985. HKTT: 22/23/108C Mạc Đỉnh Chi, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: Ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Phan Trầm L, sinh năm 1984. Địa chỉ: HKTT: 7/10B, Bùi Hữu Nghĩa, khu vực 7, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần 2).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Á trình bày:
- Về hôn nhân: Xin công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Ngọc Á và ông Phan Trầm L.
- Về con chung: có 02 con chung là cháu Nguyễn Vinh Hiển (nam), sinh ngày 20/02/2005, đã trưởng thành, và cháu Phan Ngọc Tường Vy (nữ), sinh ngày 19/6/2009, sau khi ly hôn bà Ánh xin nuôi cháu Phan Ngọc Tường Vy, ông Phan Trầm L không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Phan Trầm L trình bày: Vắng mặt.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt lần 2.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ánh. Về con chung: cháu Nguyễn Vinh Hiển (nam), sinh ngày 20/02/2005 đã trưởng thành không đặt ra xem xét; Cháu Phan Ngọc Tường Vy giao cho bà Ánh nuôi, ông Phan Trầm L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết thành vụ khác. Về án phí: theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Ngọc Á và ông Phan Trầm L có đơn thuận tình ly hôn, tuy nhiên quá trình giải quyết ông Luân không tham gia theo giấy mời của Tòa án, bà Ánh có đơn xin đình chỉ vụ việc Thuận tình ly hôn do ông Phan Trầm L hiện đi làm xa không có ở địa phương. Cho nên Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc đối với yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc Á và ông Phan Trầm L theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để chuyển thành vụ án tranh chấp. Căn cứ vào khoản 5 Điều 397 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án thụ lý lại vụ án theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Ngọc Á
3
vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông Phan Trầm L. Trong quá trình chung sống có 02 con chung là cháu Nguyễn Vinh Hiển (nam), sinh ngày 20/02/2005, đã trưởng thành, và cháu Phan Ngọc Tường Vy (nữ), sinh ngày 19/6/2009; về tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có. Bị đơn có nơi cư trú tại 7/10B, Bùi Hữu Nghĩa, khu vực 7, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
[2] Về thủ tục: Bị đơn ông Phan Trầm L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do và ông Phan Trầm L không có yêu cầu phản tố. Tòa án áp dụng Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Ngọc Á:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ trích kết hôn số: 572/2023/TLKH-BS số 15/12/2023 thể hiện giữa ông Luân và bà Ánh đã đăng ký kết hôn vào ngày 25/08/2009 số 112/2009 tại Ủy Ban Nhân Dân phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức lễ cưới, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, quá trình chung sống, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống khá hạnh phúc nhưng thời gian sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng trong suy nghĩ và quan điểm, mâu thuẫn ngày một trầm trọng và không thể hàn gắn. Do đó, bà Ánh xin ly hôn với ông Luân.
Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho hạnh phúc gia đình. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không hiểu nhau. Bà Ánh và ông Luân đã ly thân từ năm 2020. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, bị đơn không phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không trực tiếp đến Tòa để tham gia hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiếp tục động viên bà Ánh tạo cơ hội vợ chồng đoàn tụ, nhưng bà Ánh vẫn kiên quyết ly hôn, điều
4
này thể hiện tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét.
[3.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống đã có 02 là cháu Nguyễn Vinh Hiển (nam), sinh ngày 20/02/2005, đã trưởng thành, và cháu Phan Ngọc Tường Vy (nữ), sinh ngày 19/6/2009, sau khi ly hôn bà Ánh xin nuôi cháu Phan Ngọc Tường Vy, ông Phan Trầm L không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét cháu Vy đang ở cùng mẹ, đồng thời cháu Vy cũng xin ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn, nên Hội đồng xét xử xem xét cho cháu Vy ở cùng mẹ là phù hợp và không yêu cầu ông Luân cấp dưỡng nuôi con.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét nên không đề cập giải quyết. Ông Luân không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết, có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[4] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Á phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 271 và Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 19; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Á. Bà Nguyễn Ngọc Á được ly hôn với ông Phan Trầm L.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống đã có 02 là cháu Nguyễn Vinh Hiển (nam), sinh ngày 20/02/2005, đã trưởng thành không đặt ra xem xét. Giao cháu Phan Ngọc Tường Vy (nữ), sinh ngày 19/6/2009 cho bà Ánh xin nuôi và không yêu cầu
5
- ông Phan Trầm L cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở; Nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét nên không đề cập giải quyết. Ông Phan Trầm L không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết, có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Á phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001391 ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Loan |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
