TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ- ST Ngày: 14/4/2025 Về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Khánh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Thanh Quang
- Ông Ngô Minh Thi
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân, thư ký Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 246/2024/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh K, sinh năm 1996
- Bị đơn: Ông Đặng Phước Phúc D, sinh năm 1997
Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: số E khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh K trình bày: bà và ông Đặng Phước Phúc D tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống ông bà có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Hà M (nữ) sinh ngày 27/3/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, mặc dù ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không có kết quả nên bà đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 10/2023 và ông bà sống ly thân từ đó cho đến nay. Bà K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông D. Về con chung: cháu Hà M hiện đang sống cùng bà K, sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hà M đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: bà K trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Đặng Phước Phúc D: tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến của ông D được.
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy K1 vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đặng Phước Phúc D; về con chung bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đặng Phước Phúc D vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, do bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Thúy K1 yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Phước Phúc D. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thúy K1 và ông Đặng Phước Phúc D tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, bất đồng quan điểm sống, bà K1 và ông D đã sống ly thân từ tháng 10/2023. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa bà K1 và ông D đã thực sự rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K1.
[4] Đối với bị đơn ông Đặng Phước Phúc D, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần mà ông D vẫn không đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa, chứng tỏ ông không còn thiết tha đến việc hàn gắn tình cảm gia đình nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về con chung: bà Nguyễn Thị Thúy K1 và ông Đặng Phước Phúc D chung sống với nhau có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Hà M (nữ) sinh ngày 27/3/2019. Cháu Hà M hiện đang sống cùng bà K1 nên Hội đồng xét xử giao cháu Hà M cho bà K1 tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: bà K1 trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Nhưng do xét xử vắng mặt ông D nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.
[7] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 51, Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thúy K1 được ly hôn với ông Đặng Phước Phúc D.
Về con chung: giao cháu Đặng Nguyễn Hà M (nữ) sinh ngày 27/3/2019 cho bà Nguyễn Thị Thúy K1 tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông Đặng Phước Phúc D cấp dưỡng nuôi.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Đặng Phước Phúc D theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị Thúy K1 trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Nhưng do xét xử vắng mặt ông Đặng Phước Phúc D nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: bà Nguyễn Thị Thúy K1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002278 ngày 02/12/2024 thành án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Nguyễn Khánh Xuân |
Bản án số 42/2025/HNGĐ- ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K-D
