|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 6 - 2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Dung
Bà Nguyễn Thị Phương Thuý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Hương Liên– Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Lâm Thị H, sinh năm 1973
Nơi thường trú: Xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ hiện nay: Số A, khu phố H T, thị trấn H, huyện M, Đài Loan. Có đơn xin xử vắng mặt
-
Bị đơn: Anh Hoàng Văn H1; sinh năm 1974
Nơi thường trú: Xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Lâm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào năm 1992. Khi đăng ký kết hôn anh H1 kê khai sinh năm 1970, thực tế anh H1 sinh năm 1974 khi đăng ký kết hôn anh H1 mới hơn 18 tuổi. Tuy nhiên, sau khi chị H và anh H1 về chung sống với nhau hạnh phúc, tại thời điểm này chị H và anh H1 đều đủ tuổi đăng ký kết hôn, chị H đề nghị Toà án công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H và xác định tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu, xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng kéo dài mà không thể hàn gắn, chị H đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam giải quyết cho anh chị được ly hôn với anh H1.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Hoàng Văn G, sinh ngày 02/9/1993, hiện nay cháu đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu xem xét giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh H1, tuy nhiên tại các buổi làm việc anh H1 đều vắng mặt. Tại biên bản xác minh ngày 07/5/2025 giữa Tòa án và Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Công an xã T thông tin của anh H1 như sau: Anh Hoàng Văn H1, sinh ngày 14/10/1974 có số định danh cá nhân là 019074006533, có nơi thường trú tại xóm Làng Mới, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, hiện nay anh H1 không có mặt tại địa phương và không đăng ký tạm trú ở nơi nào khác. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định xét xử và các giấy triệu tập của Tòa án theo quy định nhưng anh H1 vẫn vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị H, cho chị H được ly hôn anh H1. Về con chung: Đã trưởng thành nên không giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lâm Thị H là nguyên đơn đang có nơi thường trú trước khi xuất cảnh ở Xóm L Mới, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ hiện nay: Số A, khu phố H T, thị trấn H, huyện M, Đài Loan. Anh Hoàn Văn H2 là bị đơn có nơi thường trú trước khi xuất cảnh ở Xóm L Mới, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đơn khởi kiện, bản tự khai và các tác tài liệu chị H gửi về Việt Nam đều có chứng thực của Văn phòng K tại Đ. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản của chị H nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị H.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Việt Nam.Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
Chị H đề nghị giải quyết vắng mặt, anh H2 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Việt Nam, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Lâm Thị H và anh Hoàng Văn H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 05/11/1992. Tại thời điểm giải quyết vụ án cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chị H có văn bản yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H1. Do vậy Hội đồng xét xử công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và giải quyết vụ án ly hôn theo quy định.
Theo trình bày của chị H, thì chị H và anh H1 đã nhiều năm sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Hoàng Văn H1 phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[3] Về con chung: Chị Lâm Thị H và anh Hoàng Văn H1 có 01 con chung là Hoàng Văn G, sinh ngày 02/9/1993, hiện nay cháu đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5]Án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[6] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 11; Điều 51; Điều 56; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình Việt Nam; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lâm Thị H đối với anh Hoàng Văn H1
- Về hôn nhân: Cho chị Lâm Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn H1
- Về con chung: Đã trưởng thành.
- Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Án phí: Chị Lâm Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000 236 ngày 25/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Lâm Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án và anh Hoàn Văn H2 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
4
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 42 H H
