Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Nguyên Hồng

Ông Nguyễn Đức Việt

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2025/DS-HNGĐ ngày 17/3/2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Hà Thu H, sinh năm 2004. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản Cứp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  • Bị đơn: Anh Lường Văn X, sinh năm 2001. Nơi ĐKNKTT: Bản Cứp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1 – Cục C). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 02 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị X1 trình bày như sau:

Chị H và anh Lường Văn X tìm hiểu yêu thương nhau từ năm 2020, hai bên kết hôn do cả hai cùng tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Sơn La vào ngày 14/02/2022 và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Anh chị chung sống đến giữa năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh X nghiện ma túy, mặc dù đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh X vẫn vi phạm pháp luật. Ngày 02/11/2022 anh X bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tuyên án phạt 11 năm tù. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh X. Về con chung: Chị Hà Thu H và anh Lường Văn X có hai con chung là cháu Lường Minh Đ sinh ngày 01/01/2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh ngày 26/01/2023. Chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi các con trưởng thành, không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung cùng. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có.

Tại bản tự khai ngày 22 tháng 4 năm 2025 anh Lường Văn X trình bày:

Anh và chị Hà Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M ngày 14/02/2022. Thời gian chung sống vợ chồng hòa thuận. Từ khi anh phải đi chấp hành án thời gian dài do nghiện ma túy chị H mới có yêu cầu xin ly hôn, anh đồng ý lý hôn. Anh chị có 02 con chung là cháu Lường Minh Đ sinh ngày 01/01/2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh ngày 26/01/2023. Anh đang chấp hành án nên không có điều kiện nuôi dưỡng con nguyện vọng giao lại quyền nuôi dưỡng con chung cho chị H. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có. Do đang phải chấp hành án nên anh X đề nghị được giải quyết vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng của chị H, anh X với Ban quản lý bản Cứp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Kết quả xác minh: Chị Hà Thị H2 và anh Lường Văn X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã H vào năm 2022, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Tháng 11 năm 2022 anh X bị kết án hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1 – Cục C. Anh chị có 02 con chung là cháu Lường Minh Đ sinh năm 2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh năm 2023. Các cháu hiện cùng chị H2 về nhà mẹ đẻ chị H2 sinh sống. Đại diện chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên.

Do nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân cho ly hôn giữa chị Hà Thị H2 và anh Lường Văn X.

Về con chung: Giao cháu Lường Minh Đ sinh ngày 01/01/2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh ngày 26/01/2023 cho chị Hà Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Đ, cháu H1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chấp nhận chị H không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

Về tài sản chung vợ chồng: Không có.

Về nợ chung vợ chồng: Không có.

Về án phí: Chị Hà Thu H được miễn án phí Tòa án do là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của chị Hà Thu H yêu cầu xin ly hôn đối với anh Lường Văn X, nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp là xin ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

[2.1] Về hôn nhân:

Chị Hà Thu H và anh Lường Văn X kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M vào ngày 14/02/2022. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Anh chị chung sống hòa thuận đến tháng 11 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh X phải đi chấp hành án 11 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Trại giam T1 – cục C. Quá trình xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương cũng thể hiện rõ anh X vi phạm pháp luật đang phải chấp hành án. Chị H xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, cương quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Anh X đồng ý yêu cầu xin ly hôn của chị H. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh X mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị Hà Thu H và anh Lường Văn X.

[2.2] Về con chung:

Chị Hà Thu H và anh Lường Văn X có hai con chung là cháu Lường Minh Đ sinh ngày 01/01/2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh ngày 26/01/2023.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh X đều thống nhất giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh X hiện đang đi chấp hành án phạt tù không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con. Chị H có nguyện vọng được nuôi con chung là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với thực tế. Vì vậy, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt cho các con chung chưa thành niên, cần giao cháu Đ, cháu H1 cho chị Hà Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Anh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu và anh X hiện đang chấp hành án không có khả năng cấp dưỡng.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:

Chị Hà Thu H và anh Lường Văn X xác nhận không có tài sản chung, nợ chung vợ chồng nên Tòa án không xem xét.

[2.4] Về án phí:

Chị Hà Thu H được miễn án phí Tòa án do là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hà Thu H và anh Lường Văn X.
  2. Về con chung: Giao cháu Lường Minh Đ sinh ngày 01/01/2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh ngày 26/01/2023 cho chị Hà Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Đ, cháu H1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chấp nhận chị H không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

    Sau khi ly hôn, anh X được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh X thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Anh chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án.
  4. Về án phí: Chị Hà Thu H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mai Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Mai Sơn;
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Hát Lót, Mai Sơn;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tráng A Tếnh

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 6 năm 2025.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A T

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức V

Ông Bùi Nguyên H3

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 120/2025/DS-HNGĐ ngày 17/3/2025 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Hà Thu H, sinh năm 2004. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản Cứp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  • Bị đơn: Anh Lường Văn X, sinh năm 2001. Nơi ĐKNKTT: Bản Cứp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1 – Cục C). Vắng mặt.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

  1. Về điều luật áp dụng
  2. Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

  3. Việc giải quyết vụ án
  4. 2.1. Về quan hệ hôn nhân:

    Xử cho ly hôn giữa chị Hà Thu H và anh Lường Văn X.

    Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

    2.2. Về con chung:

    Giao cháu Lường Minh Đ sinh ngày 01/01/2021, cháu Lường Thị Thanh H1 sinh ngày 26/01/2023 cho chị Hà Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Đ, cháu H1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chấp nhận chị H không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

    Sau khi ly hôn, anh X được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh X thực hiện quyền này theo quy định của Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Anh chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

    2.3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng:

    Không xem xét, giải quyết trong vụ án.

    Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

  5. Về án phí.
  6. Chị Hà Thu H được miễn án phí dân sự sơ thẩm

    Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

    Biểu quyết: 3/3 nhất trí.

Nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 40 phút, ngày 10 tháng 6 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về xin ly hôn

  • Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger