|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 02 - 2025. “V/v tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa và ông Đinh Văn Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 518/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 523/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm: 1978; Nơi ĐKHHTT: khối Y, phường V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ hiện tại: số nhà A đường P, khối F, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Nguyễn Xuân C, sinh năm: 1978; nơi cư trú trước khi xuất cảnh: khối Y, phường V, tỉnh Nghệ An; Hiện đã xuất cảnh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày:
Chị T và anh C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/7/2003 tại Ủy ban nhân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc cùng gia đình anh C. Đến tháng 8 năm 2016, anh C đi xuất khẩu lao động tại Vương quốc A. Từ khi sang Vương quốc Anh, anh C không hề quan tâm và chu cấp gì cho chị T nuôi con. Kể từ đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và không tìm thấy tiếng nói chung. Mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2003 và Nguyễn Minh A1, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2011. Hiện con chung đang ở với chị T tại khối Y, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc gia đình nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt chị.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân C hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Nguyễn Xuân C có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử... cho anh Nguyễn Xuân C thông qua bà Bùi Thị N (Mẹ của anh C); trú tại: xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và Công văn yêu cầu bà N cung cấp địa chỉ của anh C ở nước ngoài nhưng bà N chỉ biết anh C hiện tại đang ở Vương quốc Anh nhưng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C cho Tòa án biết. Sau khi Tòa án gửi các văn bản cho bà N, bà đã thông báo cho anh C biết việc chị T yêu cầu ly hôn anh và qua bà N trình bày: anh C cũng đồng ý về việc chị T yêu cầu ly hôn và không có ý kiến gì. Hiện tại anh C vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, việc thu thập chứng cứ Tòa án thực hiện đúng các quy định.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị T; cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân C.
- - Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2003 và Nguyễn Minh A1, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2011. Hiện hai cháu đang ở cùng chị T tại khối Y, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đối với cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 20/11/2003, hiện đã đủ tuổi trưởng thành, việc cháu ở với ai do cháu quyết định nên miễn xét. Cháu Minh A1 đang ở với chị T và cháu có nguyện vọng bố mẹ ly hôn được ở với mẹ. Xét hoàn cảnh thực tế của các bên thấy rằng. Chị T đang ở Việt Nam và có nguyện vọng được nuôi con chung, anh C đang ở nước ngoài và không có địa chỉ cụ thể. Do đó, đề nghị giao cháu Nguyễn Minh A1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu: Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu và anh C chưa có ý kiến nên đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí. Chị T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 479 Bộ luật tố tụng Dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn trình bày anh C hiện nay đang ở nước Vương quốc A, nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh C là bà Bùi Thị N (mẹ anh C) thì được cung cấp thông tin là hiện nay anh C đang đi xuất khẩu lao động ở Vương quốc Anh, nhưng không có điạ chỉ củ thể của anh C. Ngày 20/12/2024, Cục Q có công văn số 5430/QLXNC - Đ1 anh Nguyễn Xuân C đã xuất cảnh qua cửa khẩu T1, nhưng chưa có thông tin nhập cảnh.
Do anh C trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, theo trình bày của bà Bùi Thị N (mẹ anh C) thì anh C hiện đang lao động ở Vương quốc A, có điện thoại về cho gia đình qua mạng xã hội Zalo nhưng anh C không nói rõ địa chỉ cụ thể của anh C ở nước ngoài; anh C đã biết việc chị T làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, nhưng anh không có ý kiến gì và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến ngày xét xử vụ án anh C không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, anh C đã biết việc chị T yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]Về nội dung: Chị T vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu ly hôn anh C và yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, chị T và anh C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc tại gia đình chồng. Đến tháng 8 năm 2016 anh C đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài từ đó cho đến nay. Do cuộc sống xa cách, anh C không quan tâm và không chu cấp gì cho chị T nuôi con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không có tiếng nói chung. Hiện tại, vợ chồng không còn tình cảm và không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị T và anh C ly hôn.
[3] Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2003 và Nguyễn Minh A1, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2011, hiện các cháu đang ở với chị T. Cháu Nguyễn Nhật A đã đủ tuổi trưởng thành nên miễn xét, cháu Minh A1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện nay anh C đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Chị T đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung Nguyễn Minh A1, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2011 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Chị T chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu toàn bộ án phí li hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; 122; Điều 123; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 228; Điều 470 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T. Chị Đinh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân C.
- Về nuôi con chung:
- Giao con chung Nguyễn Minh A1, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2011 cho chị Đinh Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đinh Thị T chưa yêu cầu và anh Nguyễn Xuân C chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0013502 ngày 13 tháng 11 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Xuân C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Bùi Thị Hoa | Đinh Văn Liêm | Nguyễn Thị Hải Minh |
5
6
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
