|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/4/2025 V/v "Tranh chấp ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phong
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phương Thanh
- 2. Bà Nguyễn Thị Hằng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế Thanh – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Không tham gia
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số G, tổ E, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trương Thành T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số G, tổ E, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Trương Thành T qua mai mối rồi tiến đến hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông T hay đánh đập kiếm chuyện với vợ con. Đã rất nhiều lần khuyên nhủ cũng cũng như khắc phục những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng ông T không thay đổi. Mỗi lần nhậu về là kiếm chuyện đánh vợ con. Cũng vì con còn nhỏ và không muốn gia đình chị đỗ vỡ nên bà Đ rất nhiều lần chịu đựng tới bây giờ con gái cũng đã trưởng thành nhưng mẫu thuẫn giữa vợ chồng vẫn không cải thiện được. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Đ yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: có 01 con chung tên Trương Thị Diệu H, sinh ngày 01/10/1996. Hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Thành T trình bày:
Ông T và bà Đ qua mai mối có tiến đến hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn. Ông Đ thống nhất lời trình bày của vợ về những mâu thuẫn trong hôn nhân, nhưng một phần cũng do bệnh nên hành động thiếu suy nghĩ dẫn đến đánh con mắng vợ không kiểm soát. Từ khi vợ nộp đơn ra tòa bản thân rất ăn năn hối hận và rất muốn sửa đổi sai lầm nhưng vợ con không tha thứ và đã bỏ đi lên thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Hôm nay hòa giải lần đầu ông T rất mong bà Đ cho mình một cơ hội để sửa sai vì vậy ông không đồng ý ly hôn. Xin một thời gian để sửa đổi và khắc phục sai lầm để vợ con quay về sống chung, còn nếu vẫn không sửa đổi được thì ông T sẽ giao nhà cho vợ con ở và ra ngoài sống.
Về con chung: có 01 con chung tên Trương Thị Diệu H, sinh ngày 01/10/1996. Hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu phản tố gì.
Tại phiên tòa hôm nay: Có mặt các đương sự.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu.
Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giải quyết hôn nhân của bà Đ và ông Trương Thành T. Ông T có địa chỉ tại Số G, tổ E, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
[2] Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn qua mai mối rồi tiến đến hôn nhân, không có đăng ký kết hôn là vi phạm với quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân là không có giá trị pháp lý.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Đ, Tòa án xét thấy: tại trước và phiên tòa ông T thừa nhận là có đánh vợ con, ông T muốn bà Đ tha thứ để hàn gắn tình cảm gia đình. Tuy nhiên bà Đ không đồng ý. Xét mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trầm trọng do ông T sử dụng bạo lực gia đình nên Tòa án xử không công nhận quan hệ vợ chồng phù hợp khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Về con chung: Trong quá trình chung sống có con chung Trương Thị Diệu H, sinh ngày 01/10/1996. Hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- [3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước 300.000₫ biên lai thu số 0001906 ngày 13/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên được trừ không phải nộp thêm nữa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 235 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- - Các Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Trương Thành T.
- Về con chung: Trương Thị Diệu H, sinh ngày 01/10/1996. Hiện nay đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc nguyên đơn nộp 300.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước 300.000đ biên lai thu số 0001906 ngày 13/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên được trừ không phải nộp thêm nữa.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự, báo các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Tấn Phong |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
