Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST

Ngày 02/6/2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Phước Lộc.

2/ Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Xuyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2025/TLST - HNGĐ ngày 14/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thanh T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
  2. Bị đơn: Anh Giao Hoàng Đ, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp S, xã D, Tp P, tỉnh Kiên Giang.

(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh T trình bày và yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Chị và anh Đ có quen biết và tìm hiểu nhau từ năm 2021 và tự nguyện đi để hôn nhân không bị ai ép buộc, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường D cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/12/2021.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc không xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2023 thì giữa vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cả hai thường xuyên cự cãi, anh Đ đuổi chị ra khỏi nhà nên chị phải về nhà cha mẹ ruột ở tại khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang sinh sống và ly than với anh Đ cho đến nay.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, kéo dài cũng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với Đ.

- Về con chung: Chị và anh Đ không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T cam kết, trong quá trình chung sống chị và anh Đ không có phát sinh tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Giao Hoàng Đ trình bày:

Anh xác nhận, nội dung trình bày của chị T về quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân là đúng. Anh có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị T, do hiện nay anh còn thương, mong muốn được đoàn tụ để xây dựng gia đình.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Chị T và anh Đ: Vắng mặt không có lời trình bày.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  • + Về hôn nhân: Cho chị T được ly hôn với anh Đ.
  • + Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh Đ xác định không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • + Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị T chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Qua yêu cầu của đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Khi nguyên đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết thì bị đơn đang cư trú và sinh sống tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, chị T và anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đ chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/12/2021 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị T về việc ly hôn với anh Đ: Chị T cho rằng trong thời gian chung sống đến năm 2023 thì giữa anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung, anh Đ đuổi chị ra khỏi nhà nên chị quay về nhà cha mẹ ruột ở và vợ chồng đã ly thân cho đến nay không hàn gắn được và nguyên nhân mâu thuẫn cũng được anh Đ xác nhận là đúng. HĐXX thấy rằng, chị T và anh Đ đã ly thân với nhau từ cuối năm 2023 nhưng đến nay cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng và cũng không tới lui để quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận.

Đối với lời khai nại của anh Đ cho rằng hiện tại anh còn thương chị T nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhằm động viên anh chị đoàn tụ nhưng chị T cương quyết ly hôn.

Từ nhận định trên, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu của chị T. Cho chị T được ly hôn với anh Đ.

[3] Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết, chị T và anh Đ xác định không tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị T chịu toàn bộ án phí với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Phương T1 được ly hôn với anh Giao Hoàng Đ.
  2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T1 và anh Đ xác định không có nên HĐXX không xem xét.
  3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Hồ Thị Thanh T chịu toàn bộ số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006946 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nên chị T không phải nộp thêm.
  4. Quyền kháng cáo: Chị T và anh Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân




Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Trịnh Thị Cẩm Lình

* Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - TAND tỉnh KG;
  • - UBND P. Dương Đông;
  • - Lưu HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đ, con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger