Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST

Ngày 02 - 4 - 2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân;

Ông Lê Văn Lài

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 797/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Văn S trình bày: Anh S và chị Nguyễn Thị L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 21/11/1997 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, ly thân từ năm 2017 cho đến nay, anh S ở nhà riêng tại xã A còn chị L đi đâu không rõ. Từ khi ly thân đến nay vợ chồng không nói chuyện với nhau, không gặp nhau để hàn gắn mâu thuẫn. Vợ chồng ly thân đã lâu không ai còn quan tâm đến nhau, không thể quay về chung sống lại, tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị D, sinh ngày 01/01/1989 và Lê Nguyễn N, sinh ngày 27/10/1990. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
  • - Về nội dung:
    • + Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Lê Văn S được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
    • + Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị D, sinh ngày 01/01/1989 và Lê Nguyễn N, sinh ngày 27/10/1990. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.
    • + Về tài sản, nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết
  • Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Anh Lê Văn S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị L, cư trú tại: Ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.Nguyên đơn anh Lê Văn S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng anh S, chị L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh S, chị L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 21/11/1997 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, nên quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Qua lời trình bày của anh S và biên bản xác minh chính quyền địa phương thấy rằng: Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau tại ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu do bất đồng quan điểm sống; ly thân từ năm 2017 cho đến nay, vợ chồng thiếu sự chia sẻ, bỏ mặc nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, làm cho tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn về sống chung lại. Chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt thể hiện không có thiện chí muốn đoàn tụ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh S, chị L không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S đối với chị L là phù hợp theo quy định tại Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị D, sinh ngày 01/01/1989 và Lê Nguyễn N, sinh ngày 27/10/1990. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Anh Lê Văn S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

[6] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Lê Văn S đối với chị Nguyễn Thị L.

    Anh Lê Văn S được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.

  2. Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị D, sinh ngày 01/01/1989 và Lê Nguyễn N, sinh ngày 27/10/1990. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
  4. Về án phí: anh Lê Văn S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 00010277 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Anh S đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Nguyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH về ly hôn

  • Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Lê Văn S đối với chị Nguyễn Thị L. Anh Lê Văn S được ly hôn với chị Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger