TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 01 – 4 – 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hùng Bích
- Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 677/2024/TLST–HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2025/QĐST – HNGĐ ngày 12/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1992
- Bị đơn: Bà Nguyễn Phúc H, sinh năm 1988
Địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh Đ vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt); bà Nguyễn Phúc H vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2024, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Minh Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà H tự tìm hiểu được hơn 01 năm. Ông bà tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2017 tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Hôn nhân lần thứ nhất của vợ chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sinh sống bên gia đình của ông tại khóm Đ, phường M, thành phố L. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do kinh tế khó khăn, ông đi biển đánh cá khoảng 03 tháng về lại đất liền 01 lần, vợ của ông không chăm sóc con mà bỏ đi với người khác. Đến giữa năm 2023, vợ ông bỏ đi cho tới nay. Do thời gian ly thân đã lâu, tình cảm của vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn bà H. Cách đây khoảng 03 ngày, bà H có về lại nhà của của vợ chồng để dắt 02 con là D và K nuôi dưỡng.
Về con chung: Ông và bà H có 04 con chung tên là Nguyễn Minh T sinh ngày 05/11/2011, Nguyễn Tuấn K sinh ngày 05/9/2013, Nguyễn Tuấn D sinh ngày 20/02/2020 và Nguyễn Tuấn Đ1 sinh ngày 12/11/2021. Thời gian qua, các con chung được ông nuôi dưỡng. Do bà H đã dắt cháu D và K để nuôi dưỡng nên ông thay đổi ý kiến, đồng ý để bà H nuôi 02 con là D, K và ông yêu cầu nuôi 02 con là Đ1, T. Ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là bà bà H vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).
Về nội dung: Nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà H đã không còn tồn tại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ. Về con chung, nhận thấy, cháu Đ1 và cháu T đang được ông Đ nuôi dưỡng và ông Đ cũng đồng ý giao cháu D, cháu K cho bà H chăm sóc nuôi dưỡng. Để tạo điều kiện cho các con chung ổn định cuộc sống, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của ông Đ và ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc giao con cho bà H nuôi dưỡng. Do ông Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Do bà H không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa ông Đ và bà H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[2] Xét thấy, qua kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 27/12/2024 thể hiện, bà H đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số F, khóm Đ, phường M. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định bà H có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà H tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía ông Đ có Đơn đề nghị được vắng mặt khi xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh Đ và bà Nguyễn Phúc H tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 07/02/2017 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Ông Đ cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng ông phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do kinh tế khó khăn, ông phải thường xuyên xa nhà, bà H không thay ông chăm sóc, nuôi dạy các con. Phía bà H được Tòa án nhiều lần triệu tập, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, bà H vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của ông Đ2, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Như vậy, bà H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc bà không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, ông Đ và bà H không còn quan tâm lẫn nhau, mối quan hệ hôn nhân của ông bà không còn tồn tại. Xét thấy, mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Đ được ly hôn bà H.
[5] Về con chung: Căn cứ Trích lục khai sinh số 65/TLKS-BS ngày 26/02/2020 của Nguyễn Tuấn D (bản sao); Trích lục khai sinh số 322/TLKS-BS ngày 21/8/2019 của Nguyễn Tuấn K (bản sao); Trích lục khai sinh số 323/TLKS-BS ngày 21/8/2019 của Nguyễn Minh T (bản sao) do Ủy ban nhân dân phường M cấp, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định ông Đ và bà H có 04 (một) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Minh T sinh ngày 05/11/2011, Nguyễn Tuấn K sinh ngày 05/9/2013, Nguyễn Tuấn D sinh ngày 20/02/2020 và Nguyễn Tuấn Đ1 sinh ngày 12/11/2021. Xét thấy, cháu T, cháu Đ1 đang được ông Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu D, cháu K được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của ông Đ, ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc đồng ý giao cháu D, cháu K cho bà H nuôi dưỡng..
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Đ không yêu cầu nên bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà H cũng không có ý kiến về việc yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của bà H về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[8] Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do ông Đ đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001923 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, ông Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đ được ly hôn bà Nguyễn Phúc H.
[2] Về con chung: Ông, bà có 04 (bốn) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Minh T sinh ngày 05/11/2011, Nguyễn Tuấn K sinh ngày 05/9/2013, Nguyễn Tuấn D sinh ngày 20/02/2020 và Nguyễn Tuấn Đ1 sinh ngày 12/11/2021.
Giao cháu Nguyễn Minh T, cháu Nguyễn Tuấn Đ1 cho ông Đ được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Giao cháu Nguyễn Tuấn K, cháu Nguyễn Tuấn D cho bà H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Đ không yêu cầu.
(Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
[5] Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001923 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 42/2025/HNGĐ – ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
