|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-PT Ngày: 27-11-2025 V/v “tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thinh
Các Thẩm phán:Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử canh khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 49/2025/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con chung”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 11/2025/HNGĐ-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2025, của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lý Thị P, sinh năm 1993; căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Bị đơn: anh Đoàn Trường A, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người kháng cáo: anh Đoàn Trường A là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - chị Lý Thị P trình bày: chị và anh Đoàn Trường A kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh). Thời gian đầu, vợ chồng hòa thuận; đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2023. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh A.
Về con chung: có 01 con chung tên Đoàn Thiên Â, sinh ngày 26/11/2020, đang sống chung với chị. Ngày 22/5/2025, anh A đón con về nhà chơi rồi giữ cháu lại, không giao lại cho chị nuôi. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị buôn bán tạp hóa tại nhà, có điều kiện thuận lợi để trông nom, đưa đón con đi học; còn anh A đi làm, thường xuyên vắng nhà và không có thời gian trực tiếp, chăm sóc, đưa đón con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn - anh Đoàn Trường A trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị P về thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm ly thân và con chung. Anh cũng đồng ý ly hôn với chị P.
Về con chung: anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị P cấp dưỡng. Bản thân anh hiện là nhân viên văn phòng, đủ điều kiện chăm sóc con. Trường hợp được giao nuôi con, anh sẽ nhờ mẹ anh hỗ trợ đưa đón cháu đi học. Nếu cháu ở với chị P, việc anh đến thăm nom gặp nhiều khó khăn vì chị P không tạo điều kiện và ý nguyện của cháu muốn sống chung với anh.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 11/2025/HNGĐ-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2025, của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị P đối với anh Đoàn Trường A về việc “Ly hôn”.
- Chị Lý Thị P được ly hôn với anh Đoàn Trường A.
- Về con chung: buộc anh Đoàn Trường A giao con chung tên Đoàn Thiên Â, sinh ngày 26/11/2020 cho chị Lý Thị P được quyền tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc tranh nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị Lý Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007351 ngày 20/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành (Nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3, tỉnh Tây Ninh).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Ngày 24/7/2025 anh A kháng cáo yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu Đoàn Thiên Â.
Tại phiên tòa phúc, anh A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; còn chị P cho rằng con chung còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ, nên giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị vẫn tạo điều kiện cho anh A thăm nom con chung.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của anh A làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của anh A được quyền nuôi cháu Â, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các đương sự xác định từ thời điểm hai bên ly thân (tháng 6/2023) đến ngày 22/5/2025, cháu  do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường, ổn định; anh A vẫn đến thăm con và rước con về nhà chơi. Về điều kiện kinh tế cả anh A và chị P đều có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi con. Nhưng chị P bán tạp hóa có nhiều thời gian để đưa rước con đi học cũng như chăm sóc con; anh A làm công việc văn phòng nên ít thời gian chăm sóc con hơn. Hơn nữa, cháu Đoàn Thiên Â, sinh năm 2020, hiện nay mới 5 tuổi, nên cần sự chăm sóc của mẹ, điều này tốt hơn cho sự phát triển bình thường của cháu. Việc anh A cho rằng giao con cho chị P nuôi sẽ gây khó khăn cho việc anh thăm con. Tuy nhiên, trước đó anh vẫn xác định thường xuyên đến nhà cha mẹ chị P thăm con. Hơn nữa, tại phiên tòa chị P xác định tạo mọi điều kiện để anh A thăm con. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giao con cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh A.
[3] Khi giải quyết tại Tòa án, chị P yêu cầu ly hôn, anh A cũng đồng ý ly hôn; đây là sự tự nguyện của các đương sự về việc thuận tình ly hôn; đáng lẽ cấp sơ thẩm khi giải quyết quan hệ hôn nhân phải tuyên công nhận việc thuận tình ly hôn và các đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí hôn nhân và gia đình như quy định tại khoản 3 Điều 11 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; cấp sơ thẩm tuyên cho ly hôn và buộc đương sự chịu toàn bộ án phí là chưa chính xác. Cấp phúc thẩm điều chỉnh về cách tuyên và sửa về phần án phí; cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: các đương sự phải chịu 50% mức án phí không có giá ngạch. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị P đồng ý chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật nên ghi nhận, anh A không phải chịu án phí sơ thẩm.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: anh A kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Đoàn Trường A, sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị P đối với anh Đoàn Trường A về việc “Tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: công nhận sự thỏa thuận của chị Lý Thị P và anh Đoàn Trường A về việc thuận tình ly hôn. Chị P và anh A không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
- Về con chung: chị P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Đoàn Thiên Â, sinh ngày 26/11/2020. Ghi nhận chị P không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Buộc anh A có trách nhiệm giao cháu Đoàn Thiên Â, sinh ngày 26/11/2020 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị P cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung
- Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: chị Lý Thị P phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, ghi nhận chị P đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0007351, ngày 20/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3, tỉnh Tây Ninh) được khấu trừ. Hoàn trả cho chị P 150.000 đồng án phí.
- Án phí phúc thẩm: anh Đoàn Trường A phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001540, ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Anh A đã nộp xong án phí phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Thinh |
6
Bản án số 42/2025/HNGĐ-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con chung
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thị Phượng tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con chung Đoàn Trường An
