|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 42/2025/DS-ST Ngày 28 – 02 – 2025 V/v tranh chấp HĐ về hụi |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Trọn
- Bà Trần Thị Hoài Yên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Bảo Trân – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 600/2024/TLST-DS, ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng về hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Ngọc T, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp Tân P, xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị G; Địa chỉ: ấp Cái Đ, xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, chị Tô Ngọc T (nguyên đơn) trình bày:
Ngày 20/6/2022 âm lịch, chị có mở dây hụi 2.000.000 đồng, dây hụi có 28 chân, mỗi tháng khui một lần vào ngày 20 hàng thàng, hụi mãn vào tháng 8 năm 2024. Trong dây hụi này, chị Nguyễn Thị G tham gia chơi 03 chân và đã hốt hụi hết 03 chân vào kỳ thứ nhất, kỳ thứ 3 và kỳ thứ 4 nhưng từ sau khi hốt hụi, chị G đóng hụi chết đến hết tháng 10/2022 thì ngưng cho đến nay nên tính từ ngày tháng 11 năm 2022 đến ngày hụi mãn, chị G còn nợ chị 23 kỳ hụi chết với số tiền 138.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này chị G có gửi 1.000.000 đồng để đóng hụi chết nên đối trừ thì chị G cón nợ chị số tiền 137.000.000 đồng. Nay chị khởi kiện yêu cầu chị G trả một lần xong số tiền hụi còn nợ là 137.000.000 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu đồng). Ngoài ra, chị T không yêu cầu thêm khoản nào khác.
Đối với chị Nguyễn Thị G (bị đơn), Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng chị G không đến Toà cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng, bị đơn đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
[2] Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng về hụi. Quá trình thực hiện thỏa thuận về hụi, bị đơn đã lĩnh hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ góp hụi dẫn đến nguyên đơn phải đứng ra góp thay cho bị đơn để thực hiện nghĩa vụ đối với các thành viên còn lại trong dây hụi nêu trên khi họ lĩnh hụi nên giữa các đương sự xảy ra tranh chấp.
[3] Xét thấy, việc chơi hụi giữa các đương sự có lập danh sách hụi viên tuy không đăng ký, không được chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nhưng theo lời trình bày của nguyên đơn tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, thể hiện khi bị đơn lĩnh hụi, nguyên đơn giao tiền hốt hụi trực tiếp cho bị đơn, bị đơn có ký vào biên nhận giao tiền hốt hụi (có giấy nhận tiền giao hụi kèm theo đơn khởi kiện). Mặc dù, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc tham gia giao dịch hụi, ngày ngưng góp hụi cũng như số tiền hụi bị đơn còn nợ nguyên đơn là tự từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bởi theo quy định của pháp luật nghĩa vụ chứng minh là của đương sự nên căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cùng lời trình bày tại phiên tòa, có cơ sở xác định từ tháng 11 năm 2022, bị đơn không đóng hụi chết cho nguyên đơn là thời gian bị đơn vi phạm nghĩa vụ góp hụi đối với nguyên đơn (chủ hụi). Do đó, lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, được chấp nhận.
[4] Về thời gian thanh toán, nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả một lần hết số tiền nợ nhưng Hội đồng xét xử xét thấy, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 468, 471 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Tô Ngọc T.
Buộc chị Nguyễn Thị G trả cho chị Tô Ngọc T số tiền là 137.000.000 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày chị Tô Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, chị Nguyễn Thị G không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Chị Nguyễn Thị G phải nộp số tiền là 6.850.000 đồng (sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng, chưa nộp).
Chị Tô Ngọc T không phải nộp. Ngày 27/11/2024, chị T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 3.450.000 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003575 được trả lại toàn bộ cho chị T.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
3
Bản án số 42/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng về hụi
- Số bản án: 42/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng về hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/6/2022 âm lịch, chị có mở dây hụi 2.000.000 đồng, dây hụi có 28 chân, mỗi tháng khui một lần vào ngày 20 hàng thàng, hụi mãn vào tháng 8 năm 2024. Trong dây hụi này, chị Nguyễn Thị G tham gia chơi 03 chân và đã hốt hụi hết 03 chân vào kỳ thứ nhất, kỳ thứ 3 và kỳ thứ 4 nhưng từ sau khi hốt hụi, chị G đóng hụi chết đến hết tháng 10/2022 thì ngưng cho đến nay nên tính từ ngày tháng 11 năm 2022 đến ngày hụi mãn, chị G còn nợ chị 23 kỳ hụi chết với số tiền 138.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này chị G có gửi 1.000.000 đồng để đóng hụi chết nên đối trừ thì chị G cón nợ chị số tiền 137.000.000 đồng. Nay chị khởi kiện yêu cầu chị G trả một lần xong số tiền hụi còn nợ là 137.000.000 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu đồng). Ngoài ra, chị T không yêu cầu thêm khoản nào khác.
