TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/DS-ST
Ngày: 24/6/2025.
V/v: Tranh chấp đòi nợ tiền.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lâm và bà Nguyễn Nhàn Khánh Phú.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Đình Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc - số E đường L, tổ dân phố M, thị trấn P, huyện P, thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024, về việc: “Tranh chấp đòi nợ tiền”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 24/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện P, thành phố Huế; có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê C, sinh năm 1973 và bà Võ Thị H1, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện P, thành phố H; ông C có mặt. Bà H1 uỷ quyền cho ông C theo giấy uỷ quyền ngày 13/03/2025.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị B, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn X, xã L, huyện P, thành phố Huế; có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1957 và bà Hà Thị L, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn L, huyện P, thành phố Huế; đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn là bà Đỗ Thị H và bị đơn là vợ chồng ông Lê C, bà Võ Thị H1 có mối quan hệ quen biết với nhau ngoài xã hội. Nguyên đơn đã nhiều lần đưa tiền cho phía bị đơn để mua bán đất làm ăn chung với nhau. Vì tin tưởng nên vào năm 2021, bà H đưa cho bị đơn số tiền 970.000.000 đồng để làm ăn. Theo như biên bản làm việc ngày 22/8/2023, vợ chồng ông C và bà H1 thừa nhận còn nợ bà H và bà B số tiền 400.000.000 đồng và cam kết sẽ trả trong 02 đợt vào ngày 15/9/2023 sẽ trả số tiền 200.000.000 đồng và vào ngày 15/10/2023 sẽ trả số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó phía bị đơn chỉ trả được số tiền 200.000.000 đồng, số tiền 200.000.000 đồng còn nợ phía bị đơn vẫn không chịu trả. Phía nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu phía bị đơn trả nợ nhưng ông C và bà H1 vẫn không trả nợ cho nguyên đơn như cam kết mà luôn tìm cách trốn tránh. Do đó, nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu ông Lê C và bà Võ Thị H1 phải trả số tiền nợ là 200.000.000 đồng, trả một lần và không yêu cầu tính lãi.
Tại văn bản trình bày ý kiến, lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê C và bà Võ Thị H1 trình bày:
Ông Lê C và bà Võ Thị H1 thừa nhận có nợ của bà Đỗ Thị H số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên bị đơn vẫn chưa trả được số tiền trên cho nguyên đơn. Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý trả số tiền 200.000.000 đồng cho nguyên đơn nhưng đề nghị nguyên đơn tạo điều kiện về mặt thời gian cho bị đơn được trả nợ. Cụ thể là vào ngày 01/12/2025, vợ chồng ông Lê C và bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ trả nợ số tiền 50.000.000 đồng cho nguyên đơn. Vào ngày 01/6/2026, vợ chồng ông Lê C và bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ trả nợ số tiền 50.000.000 đồng cho nguyên đơn. Vào ngày 01/12/2026, vợ chồng ông Lê C và bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ trả nợ số tiền 50.000.000 đồng cho nguyên đơn. Vào ngày 01/6/2027, vợ chồng ông Lê C và bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ trả nợ số tiền 50.000.000 đồng cho nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B trình bày: Bà Trần Thị B thừa nhận giữa bà B, bà H và vợ chồng ông C, bà H1 có mối quan hệ làm ăn chung với nhau. Quá trình làm ăn chung, phía bị đơn có nợ bà B và bà H số tiền 400.000.000 đồng theo biên bản làm việc ngày 22/8/2023 tại Toà án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế). Tuy nhiên, sau đó phía bị đơn đã trả được số tiền 200.000.000 đồng. Số tiền phía bị đơn còn nợ nguyên đơn là 200.000.000 đồng, bà B đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2 và bà Hà Thị L trình bày: Quá trình mua bán, làm ăn chung giữa nguyên đơn, bị đơn và bà Trần Thị B thì ông H2 và bà L không biết. Về số tiền 200.000.000 đồng vợ chồng ông Lê C và bà Võ Thị H1 nợ của bà H và bà B thì vợ chồng ông H2 và bà L không biết và không liên quan. Ông H2 và bà L yêu cầu Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết, các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên toà, phía nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.
Bị đơn đồng ý trả số tiền 200.000.000 đồng theo yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, đề nghị phía nguyên đơn chấp nhận phương án trả nợ như bị đơn đề nghị trong quá trình hoà giải tại Toà án hoặc cho phía nguyên đơn được trả nợ theo tháng với số tiền 10.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi trả hết số tiền nợ. Tranh luận tại phiên toà phía nguyên đơn không đồng ý với đề nghị đối với phương án trả nợ của bị đơn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, các Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147 và Điều 227, 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 119, 280, 466, 467, 470 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Lê C và bà Võ Thị H1 trả cho nguyên đơn và bà Trần Thị B số tiền 200.000.000 đồng, số tiền này được trả 1 lần. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút về việc không yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi 38.400.000 đồng. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 200.000.000 đồng còn nợ cho nguyên đơn. Tranh chấp này được xác định là “Tranh chấp đòi nợ tiền” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc theo khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Võ Thị H1, vợ chồng ông Nguyễn Văn H2, bà Hà Thị L vắng mặt tại phiên toà đã có văn bản uỷ quyền và đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H1, ông H2, bà L theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung khởi kiện:
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị đơn là ông Lê C và bà Võ Thị H1 thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa, phía bị đơn cũng đồng ý trả số tiền 200.000.000 đồng cho nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần chấp nhận.
Nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả số tiền trên 01 lần, phía bị đơn đề nghị kéo dài thời gian trả nợ, cụ thể là đề nghị trả nợ cho phía nguyên đơn 10.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi trả hết khoản nợ; tuy nhiên, phía nguyên đơn không đồng ý.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Phía bị đơn đã nhiều lần hứa hẹn nhưng vẫn không trả tiền cho nguyên đơn, việc nợ tiền xảy ra từ năm 2021 nhưng bị đơn vẫn không trả thêm được khoản tiền nào cho phía nguyên đơn, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền trên 01 lần cho nguyên đơn.
Đối với yêu cầu khoản tiền lãi: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn đã rút lại yêu cầu tính lãi nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Lê C và bà Võ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều Điều 116, 117, 119, 280, 466, 467, 468, 470 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đỗ Thị H. Buộc bị đơn là ông Lê C và bà Võ Thị H1 phải trả cho nguyên đơn bà Đỗ Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B số tiền 200.000.000 đồng; số tiền này được trả một lần.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đỗ Thị H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Lê C và bà Võ Thị H1 không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền trên thì phải chịu thêm lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành.
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi 38.400.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Buộc bị đơn là ông Lê C và bà Võ Thị H1 phải chịu 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Đỗ Thị H là người cao tuổi (61 tuổi) được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN (đã ký và đóng dấu) Trần Ngọc Tú |
Bản án số 42/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp đòi nợ tiền
- Số bản án: 42/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nợ tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp dân sự về việc đòi nợ tiền
