Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/DS - ST

Ngày: 24/03/2025

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Tuyết

3/ Ông Lê Hữu Trọng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 329/2024/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng T1 (gọi tắt là Ngân hàng S)

Trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật là Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là Công ty TNHH MTV Q2 và khai thác tài sản ngân hàng T1 (Công ty S1) (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Ngọc T - Chức vụ Tổng Giám đốc) (Theo Giấy uỷ quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)

Người được ủy quyền: Nguyễn Vũ Khánh C – Chức vụ: Phó tổng giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền của ông T là ông Nguyễn Huy H (theo Giấy uỷ quyền số 8152/2024/UQ-TGĐ ngày 19/11/2024)

Địa chỉ liên lạc: Lầu 6, số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trầm Lê Q, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: F V, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2024, các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Huy H trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 (gọi tắt Ngân hàng S) và ông Trầm Lê Q thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 10/11/2018, hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 20.472.724 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 14.050.000 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoảnn và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/5/2023 S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 13.883.566 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) áp dụng lãi suất là 2.6%/tháng trên số nợ quá hạn này nhân với 150%.

Do ông Trần Lê Q1 vi phạm Hợp đồng đã ký. Trong quá trình thu hồi nợ ông Trầm Lê Q không có thiện chí thanh toán nợ vay quá hạn nên Ngân hàng TMCP T1 đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 5 để giải quyết theo đúng pháp luật hiện hành.

Tính đến ngày 24/03/2025, ông Q còn nợ S tổng số tiền là 45.776.149 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó bao gồm nợ gốc là 13.883.566 đồng, lãi quá hạn là 31.892.583 đồng. Do đó, S khởi kiện yêu cầu ông Q phải thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật với tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/03/2025 là

45.776.149 đồng. Ngoài ra, ông Q còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – ông Trầm Lê Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa làm việc trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên toà sơ thẩm,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 20/11/2024. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có bản tự khai và Tóm tắt sao kê xác định số nợ mà ông Q phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/03/2025 là 45.776.149 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 13.883.566 đồng, lãi quá hạn là 31.892.583 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 13.883.566 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng). Ngoài ra, ông Trầm Lê Q còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:

  • - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trầm Lê Q thanh toán tổng số tiền là 45.776.149 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 13.883.566 đồng, lãi quá hạn là 31.892.583 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông Trầm Lê Q còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Án phí ông Q chịu theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :

Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 khởi kiện, yêu cầu ông Trầm Lê Q trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng thẻ. Trên hợp đồng thẻ ghi địa chỉ bị đơn tại số F V, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện “đương sự Trầm Lê Q, sinh năm 1994 có đăng ký thường trú tại F V, Phường A, Quận E nhưng không thực tế cư trú, hiện cư trú ở đâu không rổ”. Tuy nhiên, khi thực hiện hợp đồng vay, ông Q đã cung cấp sổ hộ khẩu thể hiện ông đang cư trú tại địa chỉ số F V, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ngân hàng và tại hợp đồng tín dụng ông Q cũng đã ghi địa chỉ trên vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Như vậy, ông Q là người đang phải thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng thẻ với Ngân hàng S nhưng cung cấp địa chỉ cư trú không đúng hoặc đã chuyển nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng S nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/7/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng S có đơn đề ngày 20/ 11/2024 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án. Bị đơn là ông Trầm Lê Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Q vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Xét ông Trầm Lê Q đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/11/2018, loại thẻ tín dụng quốc tế S Visa, số thẻ: 472074 – 4896 với Ngân hàng S để vay khoản tiền là 15.000.000 đồng, Lãi suất áp dụng cho thẻ Visa là 2.6%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Theo Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng S nộp cho Toà án ngày 12/02/2025, Hội đồng xét xử xác định ông Q đã bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 22/12/2018. Số tiền ông Q đã giao dịch là 20.472.724 đồng. Số tiền ông Q đã thanh toán là 14.050.000 đồng. Khoản tiền trên được thanh toán cho các khoản phí/lãi kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch rút tiền mặt kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch mua

hàng hóa kỳ trước và trong kỳ theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 23/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, dư nợ tại thời điểm này là 13.883.566 đồng làm nợ gốc, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Việc ông Q không thanh toán dư nợ thẻ tín dụng hàng tháng cho Ngân hàng S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng S.

Tính đến ngày 24/03/2025, ông Q còn nợ S tổng số tiền là 45.776.149 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó bao gồm nợ gốc là 13.883.566 đồng, lãi quá hạn là 31.892.583 đồng. Ngoài ra, ông Q còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 25/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Ông Q còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 13/02/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Căn cứ vào bảng kê chi tiết giao dịch của khách hàng, bảng tóm tắt sao kê và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, có đủ cơ sở để chứng minh ông Q đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng nêu trên, số tiền ông Q thực hiện các giao dịch, số tiền đã thanh toán, ông Q hiện còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc là 13.883.566 đồng.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Q trả số nợ gốc trên là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[3.2] Về lãi suất: Căn cứ Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 quy định mức lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng Visa là 2.6%/tháng, lãi quá hạn tính bằng 150% lãi suất trong hạn (3.9%/tháng).

Căn cứ vào Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S có thể hiện nội dung: «Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ phát hành Thông Báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng.....Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau :.....- Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ. – Áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Đ Phát Hành Thẻ»

Xét thấy, mức lãi suất trên do các bên tự nguyện thỏa thuận tại Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất trên có cơ sở để chấp nhận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Q trả số nợ lãi quá hạn 31.892.583 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[3.3] Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Q đến tòa để trình bày ý kiến. Ông Q không có mặt tại Tòa án để cho lời khai hoặc nêu ý kiến về các khoản tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán và các khoản phí mà S yêu cầu và vẫn vắng mặt được xem là ông Q đã từ bỏ quyền trình bày, cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước tòa. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S với số nợ gốc, nợ lãi quá hạn mà Ngân hàng S yêu cầu ông Q phải trả.

[3.4] Từ các nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với khoản nợ của thẻ tín dụng số: 472074 – 4896 của ông Q với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 25/03/2025) là 45.776.149 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi chín đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 13.883.566 đồng, lãi quá hạn là 31.892.583 đồng. Ông Trầm Lê Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Về thời hạn thanh toán: Từ tháng 5 năm 2023, ông Q đã không thanh toán bất kì khoản tiền nào cho Ngân hàng S, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng S. Do vậy, cần buộc ông Q thanh toán các khoản nợ làm một lần cho Ngân hàng S sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S được chấp nhận nên bị đơn là ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là Ngân hàng S

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử :

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (gọi tắt là Ngân hàng S):

[1.1] Buộc ông Trầm Lê Q phải trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 tổng số tiền là 45.776.149 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 13.883.566 đồng (Mười ba triệu tám trăm tám mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 31.892.583 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm chín mươi hai ngàn năm trăm tám mươi ba đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 ngày 10/11/2018. Ông Trầm Lê Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[1.2]. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

[2.1]. Ông Trầm Lê Quang C1 án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.144.404 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi bốn ngàn bốn trăm lẻ bốn đồng).

[2.2]. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 số tiền 983.768 đồng (Chín trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi tám đồng) theo Biên lai thu số AA/2024/0009933 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 và ông Trầm Lê Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Q.5;
  • - Chi cục THADS Q5;
  • - Đương sự
  • - Lưu VP, HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thanh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS - ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 42/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 (gọi tắt Ngân hàng S) và ông Trầm Lê Q thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 10/11/2018, hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 20.472.724 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger