Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - VĨNH LONG

Bản án số: 42/2025/DS- ST

Ngày: 22/10/2025

V/v tranh chấp đòi lại tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đinh Thị Thúy Hằng.
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Trí - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Võ Quốc Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2025/TLST- DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lâm Quốc T, sinh năm 1983; Địa chỉ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nay là ấp Ô, xã S, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của anh Lâm Quốc T: Anh Đỗ Hiếu N, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Nay là tổ C, ấp A, xã H, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nay là ấp C, xã H, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bà Mai Thị L, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nay là ấp C, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 17/12/2024 của nguyên đơn anh Lâm Quốc T,

quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh Đỗ Hiếu N là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của anh Lâm Quốc T trình bày:

Ngày 18/9/2023 anh là người đại diện cho anh Lâm Quốc T cùng với bị đơn là anh Trần Văn H có đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Vĩnh Long) thỏa thuận anh H sẽ trả số tiền cho anh T thay cho ông P và bà L với số tiền phải thi hành án là 118.000.000 đồng theo Bản án số 04/2021/DS-ST, ngày 19/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long) tại cơ quan Thi hành án anh là người đại diện theo ủy quyền của anh T đã nhận từ anh Trần Văn H số tiền bằng 50.000.000 đồng và chấp thuận giải tỏa thửa đất số 304 tờ bản đồ số 05, diện tích bằng 2.283,3m² để ông P và bà Lê L1 thủ tục chuyển nhượng cho anh Trần Văn H và hẹn đến ngày 08/11/2023 ông H sẽ thanh toán số tiền còn lại là 68.000.000 đồng nhưng đến ngày 15/11/2023 anh H chỉ thanh toán được 50.000.000 đồng, còn lại số tiền 18.000.000 đồng anh H hẹn vài ngày nữa sẽ trả, anh T đã nhiều lần gọi điện đòi nhưng anh H vẫn cứ hẹn mà không trả, nay anh T yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh T số tiền bằng 18.000.000 đồng, anh T không yêu cầu tính lãi.

- Bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử nên không có lời trình bày.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Mai Thị L: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử, tuy nhiên tại biên bản ghi lời khai ngày 03/10/2025 ông Nguyễn Văn P trình bày trong buổi làm việc tại Chi cục thi hành án dân sự có mặt ông, anh Trần Văn H và anh Đỗ Hiếu N là người đại diện cho anh Lâm Quốc T có thỏa thuận anh Trần Văn H sẽ đứng ra thanh toán cho anh Lâm Quốc T thay ông với số tiền bằng 118.000.000 đồng và cơ quan Thi hành án đã tiến hành giải tỏa thửa đất 304 tờ bản đồ số 05 diện tích 2.283,3m² và ông đã làm thủ tục chuyển nhượng cho anh Trần Văn H xong.

Ý kiến trình bày của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thời hạn giải quyết án: Thẩm phán đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 280, 370 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Quốc T. Buộc anh Trần Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh T với số tiền bằng 18.000.000 đồng.

Về mức lãi suất: Do anh Lâm Quốc T không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu chứng cứ tình tiết của vụ án:

Tài liệu do nguyên đơn cung cấp:

  • Bản án số 04/2021/DS-ST ngày 19/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
  • Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án.
  • Công văn số 54/CV-THADS.KV12 ngày 08/8/2025 và công văn số 80/CV-THADS.KV12 ngày 22/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Vĩnh Long.

Tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp: Không có.

Tài liệu chứng cứ do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp: Không có.

Những tình tiết các bên thống nhất và không thống nhất: Do bị đơn anh Trần Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Mai Thị L vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử nên Tòa án không xác định được những tình tiết nào các bên đã thống nhất và các bên không thống nhất được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp đòi lại tài sản bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn xã H, tỉnh Vĩnh Long nên căn cứ vào khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Mai Thị Lê .

[3]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu anh Trần Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền là 18.000.000 đồng và anh không yêu cầu tính lãi.

[4]. Bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng phía anh H đã không đến Tòa và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình phản bác gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lâm Quốc T, tại biên bản ngày 18/9/2023 về việc giải quyết việc thi hành án đối với bản án số 04/2021/DS-ST ngày 19/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tại bản án này không có thể hiện có tên anh Trần Văn H, tuy nhiên tại biên bản ngày 18/9/2023 thì có thể hiện họ tên và chữ ký của anh H và cũng tại biên bản này thể hiện ông P đã thực hiện nghĩa vụ cho anh T bằng 50.000.000 đồng nên phía cơ quan Thi hành án đã giải tỏa thửa đất số 304 tờ bản đồ số 05, diện tích bằng 2.283,3m² để ông P và bà Lê L1 thủ tục chuyển nhượng cho anh Trần Văn H, mặt khác chấp hành viên của Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Vĩnh Long xác nhận ông Nguyễn Văn P, anh Trần Văn H và anh Đỗ Hiếu N cùng đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Vĩnh Long thỏa thuận việc chuyển nhượng thửa đất 304 tờ bản đồ số 5 diện tích là 2.283,3 m² cho anh Trần Văn H, đồng thời anh Trần Văn H thay mặt cho ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ thanh toán cho anh Lâm Quốc T (thông qua anh Đỗ Hiếu N) số tiền là 118.000.000 đồng. Như vậy có cơ sở xác định giữa ông Nguyễn Văn P và bà Mai Thị L với anh Trần Văn H có thực hiện chuyển giao nghĩa vụ thanh toán số tiền 118.000.000 đồng, sau khi thực hiện chuyển giao nghĩa vụ anh H có thay ông P và bà L thanh toán cho anh Lâm Quốc T số tiền bằng 100.000.000 đồng còn lại 18.000.000 đồng, nên buộc anh Trần Văn H phải tiếp tục thanh toán cho anh Lâm Quốc T số tiền còn lại 18.000.000 đồng là có cơ sở.

[5]. Về mức lãi suất: Do anh Lâm Quốc T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Quốc T chấp nhận lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long

Về án phí: Do yêu cầu của anh Lâm Quốc T được chấp nhận nên anh T không phải chịu án phí . Buộc anh Trần Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 166; Điều 280; Điều 370 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Quốc T. Buộc anh Trần Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho anh Lâm Quốc T số tiền bằng 18.000.000 đồng.
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Lâm Quốc T cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh Trần Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí: Buộc anh Trần Văn H phải chịu 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Lâm Quốc T không phải chịu án phí, hoàn trả cho anh Lâm Quốc T số tiền tạm ứng án phí 450.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006079 ngày 13/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, nay là Phòng thi án dân sự khu vực 12 - Vĩnh Long.
  4. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND khu vực 12 - Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thạch Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS- ST ngày 22/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - VĨNH LONG về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 42/2025/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số: 42/2025/DS- ST, Ngày: 22/10/2025, V/v tranh chấp đòi lại tài sản (Thắng - Hồ)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger