Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/DS-ST

Ngày: 21/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ung Thị Ngọc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Thu An

2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà THị Hồng Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2025/TB-TLVA ngày 11/02/2025 về việc: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ D, Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1982 và bà Lê Thị Thảo N1, sinh năm 1985; Cùng địa chỉ: tổ A ấp B xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Hoàng Thị H trình bày:

Ngày 22/7/2022 bà H có cho ông Nguyễn Ngọc N vay số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để đáo hạn ngân hàng. Khi vay ông N có thế chấp cho bà H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 326970, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 04199, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/11/2021 cho ông Nguyễn Ngọc N và bà Lê Thị Thảo N1. Khi vay tiền, ông N có viết giấy “Biên nhận mượn tiền”, vợ ông N là bà Lê Thị Thảo N1 biết ông N vay tiền là đáo hạn khoản nợ của hai vợ chồng vay của ngân hàng. Khi vay ông N hẹn 05 ngày sau kể từ ngày vay sẽ trả lãi cho tôi cả tiền vay và tiền lãi.

Do ông N, bà N1 không trả mặc dù bà H đã đòi nhiều lần. Do đó, bà H yêu cầu tòa án Toà án buộc ông Nguyễn Ngọc N, bà Lê Thị Thảo N1 phải trả cho bà H số tiền nợ gốc đã vay ngày 22/07/2022 là 500.000.000 đồng và lãi suất với mức 10%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 22/7/2022 đến khi vụ án được giải quyết xong, lãi suất tạm tính đến ngày 11/02/2025 là 125.000.000 đồng.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc N, bà Lê Thị Thảo N1, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông N, bà N1 làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông N, bà N1 vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông N, bà N1 được.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án tính lãi suất từ ngày 28/7/2022 cho đến khi vụ án được giải quyết xong.

Bị đơn vắng mặt không lý do

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị H: Buộc ông Nguyễn Ngọc N phải trả cho bà Hoàng Thị H số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng và lãi suất là 114.803.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu bà Lê Thị Thảo N1 có trách nhiệm cùng ông Nguyễn Ngọc N trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn bà Hoàng Thị H yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả số tiền gốc đã vay và tiền lãi phát sinh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc N và bà Lê Thị Thảo N1 cư trú tại xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

[2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Ngọc N và bà Lê Thị Thảo N1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do vậy căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Về khoản tiền gốc: Mặc dù phía bị đơn ông Nguyễn Ngọc N và bà Lê Thị Thảo N1 vắng mặt trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án. Ngày 21/02/2025, ông N, bà N1 đã nhận được thông báo thụ lý số 27/TB – TLVA ngày 11/02/2025, và tiếp theo đó, bị đơn vắng mặt trong các buổi công khai chứng cứ và hòa giải tại tòa án. Tòa án đã gửi các thông báo về nội dung bị kiện, chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho bị đơn. Nhưng cả ông N, bà N1 không có ý kiến gì, kể cả ý kiến phản đối. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.

Tại giấy “Biên nhận mượn tiền” đề ngày 22/7//2022 (BL23) mà nguyên đơn cung cấp, thể hiện: Về hình thức: là bản giấy in sẵn mẫu, phần tên, năm sinh, địa chỉ, ngày tháng, số tiền vay bằng số, bằng chữ, hạn trả, chữ ký được để trống, phần này được người vay viết bằng chữ, theo lời trình bày của bà H là do ông N tự ghi và ký tên. Về nội dung: Ông Nguyễn Ngọc N có mượn của bà H số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), thời gian vay là 05 ngày, tính từ ngày mượn tiền, mục đích vay là đáo hạn ngân hàng, có chữ ký của ông Nguyễn Ngọc N, đối chiếu với qui định tại Điều 463 BLDS thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”. Do đó, giao dịch giữa bị đơn ông Nguyễn Ngọc N với nguyên đơn bà Hoàng Thị H là hợp đồng vay tài sản, phía bị đơn không trả lại số tiền đã vay là vi phạm thỏa thuận. Bà H trình bày hiện đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DC 326970, số vào sổ cấp giấy chứng nhận : CS 04199, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/11/2021 cho ông Nguyễn Ngọc N và bà Lê Thị Thảo N1. Bà H cho rằng khi vay, ông N đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho bà. Tại phiên toà, bà H xác định khi cho vay ông N là người trực tiếp vay của bà H, không có mặt của bà N1, người trực tiếp giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H cũng chỉ có ông N, mọi việc bà N1 đều không biết. Do đó, không có cơ sở chấp nhận việc bà H yêu cầu bà N1 cùng ông N trả lại số tiền đã vay cho bà H mà chỉ buộc cá nhân ông N phải trả toàn bộ số tiền nợ nêu trên cho bà H.

[3.2] Về lãi suất:

[3.2.1] Theo giấy mượn tiền mà nguyên đơn cung cấp thể hiện việc vay tiền không có lãi, nhưng do bị đơn không trả tiền khi đến hạn, nên bà H yêu cầu bị đơn phải trả lãi theo mức 10%/năm, tương ứng 0,833%/tháng là phù hợp với qui định tại khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 BLDS. Lãi suất được tính như sau: 500.000.000 đồng x 34 tháng 23 ngày (từ ngày 28/7/2022 đến ngày 21/6/2025) x 0,833% = 144.803.000 đồng

Tại phiên toà bà H xác nhận có nhận của ông N 30.000.000 đồng lãi suất và cho rằng ông N chỉ đưa chứ không xác định trả mức lãi suất là bao nhiêu, trả cho thời gian nào nên đề nghị trừ vào tiền lãi. Như vậy, số tiền lãi ông N phải trả cho bà H là 144.803.000 đồng - 30.000.000 đồng = 114.803.000 đồng

Từ phân tích trên, áp dụng các qui định tại các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Ngọc N phải trả cho bà Hoàng Thị H 500.000.000 đồng tiền vay gốc và tiền lãi là 114.803.000 đồng

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DC 326970, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 04199, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/11/2021 cho ông Nguyễn Ngọc N và bà Lê Thị Thảo N1 hiện nay bà Hoàng Thị H đang giữ, do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.592.120 đồng

Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hoàng Thị H: Buộc ông Nguyễn Ngọc N phải trả cho bà Hoàng Thị H số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng và lãi suất là 114.803.000 đồng

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu bà Lê Thị Thảo N1 có trách nhiệm cùng ông Nguyễn Ngọc N trả nợ.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.592.120 đồng. Bà Hoàng Thị H không phải chịu án phí. Bà H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0004732 ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ung Thị ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS-ST ngày 21/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 42/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chap vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger