Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 42/2025/DS-PT

Ngày 18 - 02 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hường

Ông Đoàn Văn Thậm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 6 năm 2024 và ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Số D đường số B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt) .

Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Ngô Đức D, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn H, T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: 61/8/2 Nguyễn Công T1, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 28/3/2024) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A, Quán T, phường Q, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội (theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2023) (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đỗ Thị Hoài L, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A, Quán T, phường Q, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/02/2021) (có mặt).

2. Ông Lê Văn N, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

3. Ông Huỳnh Hải L1, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông N, ông L1: Ông Nguyễn Vũ H2, sinh năm 1992; địa chỉ: A đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 12/3/2024) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Hải L1: Luật sư Nguyễn Thị Kim S1 - Văn phòng Luật sư Phạm Văn C, thuộc đoàn Luật sư tỉnh K (có mặt).

4. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 12/3/2024) (có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Trần Thanh S - Bị đơn, ông Lê Văn N, anh Huỳnh Hải L1 - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H ủy quyền cho ông Ngô Đức D trình bày:

Ngày 20/10/2017, ông Trương Trọng T3 chuyển nhượng cho bà H hai thửa đất gồm: Diện tích 7.008,6m², tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số BV 539406 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho bà H ngày 23/6/2015 và diện tích 3.207,4m², thuộc thửa số 247, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo GCNQSD đất số CĐ 881915 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho bà H ngày 30/6/2016.

Đầu tháng 5/2021, ông Trần Thanh S là chủ sử dụng thửa đất liền kề hai thửa đất của bà H vào bao chiếm đất của bà H xây dựng hàng rào kiên cố bằng gạch block chiều dài 65m và chiều cao 0,5m tổng diện tích là 1.714,64m², (trong đó, diện tích 534,7m² thửa số 247, tờ bản đồ số 18, theo GCNQSD đất số CĐ 881915 và 1.206,5m² thửa số 191, tờ bản đồ số 18, theo GCNQSD đất BV 539406). Nhận thấy hành vi xây dựng lấn chiếm của ông S đã xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của bà H, nên bà H có đơn yêu cầu UBND xã C tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai. Ngày 23/12/2022, UBND xã C tiến hành hòa giải, trong biên bản hòa giải đã kết luận việc bà H yêu cầu ông S trả lại phần đất theo nội dung tranh chấp là có căn cứ. Tuy nhiên, ông S cho rằng việc ông S xây dựng lấn chiếm đất của bà H là không sai nên ông S không tự nguyện tháo dỡ bức tường rào.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông S phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình kiến trúc, tường rào xây dựng trái phép trả diện tích đất lấn chiếm cho bà H theo đo đạc thực tế tổng diện tích đất là 1.741,2m² (trong đó, diện tích 534,7m² thuộc thửa 247, tờ bản đồ số 18, theo GCNQSD đất số CĐ 881915 và 1.206,5m² thuộc thửa 191, tờ bản đồ số 18, theo GCNQSD đất BV 539406), đều toạ lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Trần Thanh S ủy quyền cho ông Nguyễn Quang H1 trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất 3.559,3m², thửa đất số 68, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo GCNQSD đất số BH 939674, do UBND huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 21/02/2012 cho bà Trần Ngọc Q và ông Trần Nguyễn . Ngày 16/6/2015, ông Trần Thanh S nhận CNQSD đất của bà Q, ông Nguyễn toàn B thửa đất trên theo hợp đồng chuyển nhượng số 3648, quyển số 07/TP/CC-SCC/HĐGD của Phòng C1, tỉnh Kiên Giang (nay là Văn phòng C2) đã được biến động sang tên ông S vào ngày 01/7/2015. Khi bà Q, ông Nguyễn G đất cho ông S có mặt của 02 chủ đất cũ là bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn N.

Tháng 6/2019, ông S thu hoạch cây trái thì phát hiện bên trong suối có cọc bê tông kèm dây thép gai rào ngang thửa đất của ông S được kéo từ bên phía đất ông Hai Đ kéo sang, ông S đã trao đổi với ông N thì ông N khẳng định mốc giới thửa đất bàn giao đúng hiện trạng khi tách sổ cho bà M. Ông S có tham khảo ý kiến của địa chính xã C thì được biết khu vực ấp Ông L2 có sự lệch về tọa độ, mốc giới của nhiều thửa đất. Năm 2018, các thửa đất xung quanh được tách ra từng thửa và chuyển nhượng cho ai thì ông S không biết. Theo ông S thì thửa số 191 của bà H có tranh chấp cũng bị sai lệch tọa độ trùm lên 200m² phần đường lộ xóm. Để bảo vệ quyền lợi của ông S nên tháng 05/2021, ông S đã xây dựng hàng rào trên móng đá của phần giáp đất ông Đ không có lấn chiếm đất của bà H. Nay ông S yêu cầu Tòa án giải quyết bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N trình bày:

Năm 2001, ông có nhận chuyển nhượng QSD đất của ông Huỳnh Thành L3 diện tích khoảng 8.000m², trên đất có căn nhà cấp 4, tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Năm 2008, ông chuyển nhượng cho bà Trần Thị M1 diện tích 3.500m². Năm 2014, ông chuyển nhượng cho ông Nguyễn Công L4 diện tích đất còn lại. Sau khi ông L4 làm thủ tục chuyển nhượng sang tên như thế nào mà đất của ông còn thừa lại diện tích 2.000m² trên đất có căn nhà cấp 4, đất chưa được cấp GCNQSD đất, nhưng không thấy ai tranh chấp. Năm 2021, ông chuyển nhượng diện tích 2.000m² cho ông Huỳnh Hải L1 bằng giấy tay và ông L1 tự làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án, yêu cầu xét xử theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1 trình bày:

Ngày 14/6/2021, ông có nhận chuyển nhượng QSD đất của ông Lê Văn N với diện tích là 2.000m², trên đất có căn nhà cấp 4, đất có tứ cận một bên giáp ông Nguyễn Công L4, một bên giáp ông Trần Thanh S, một bên giáp suối và một bên giáp đường liên xóm. Khi nhận chuyển nhượng thì đất của ông N chưa được cấp GCNQSD đất chỉ có sơ đồ 15, giá chuyển nhượng là 5.700.000.000đ. Việc chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng tay có ban ấp xác nhận chứ không có công chứng chứng thực. Sau đó, ông có đi làm thủ tục cấp GCNQSD đất thì Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P không làm vì đất này đã chồng ranh. Căn cứ tờ trích đo địa chính đất tranh chấp giữa bà H với ông S số 646 ngày 05/7/2023, ông xác định diện tích đất mà ông nhận chuyển nhượng của ông N không nằm trong phần đất tranh chấp giữa bà H với ông S, nhưng việc cấp GCNQSD đất của hai bên sai lệch tọa độ. Ranh giới giữa các bên từ xưa đến giờ không thay đổi, nếu có sai là sai trên tọa độ cấp giấy.

Do việc khởi kiện của bà H với ông S không liên quan đến đất ông nhận chuyển nhượng của ông N nên ông không yêu cầu hay tranh chấp gì. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì ông sẽ khởi kiện ông N để giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng bằng một vụ kiện khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Hoài L do ông Nguyễn Quang H1 đại diện ủy quyền: Bà L không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V: Không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 5,5m², nằm trong GCNQSD đất số BV 539400 của bà H. Chỉ yêu cầu ông S giao trả diện tích đất 1.735,7m² (trong đó, diện tích 534,7m² thuộc thửa 247, tờ bản đồ số 18, theo GCNQSD đất số CĐ 881915 và 1201,0m² thuộc thửa 191, tờ bản đồ số 18, theo GCNQSD đất BV 539406).

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông S đồng ý giao trả cho bà H diện tích đất nằm trong GCNQSD đất của bà H. Yêu cầu xác định diện tích đất của ông S được cấp GCNQSD đất và yêu cầu Tòa án nhập vụ án mà ông khởi kiện ông L1 và ông N để giải quyết chung vụ án này.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, ông N và bà V yêu cầu độc lập, yêu cầu hủy GCNQSD đất của bà H và yêu cầu nhập vụ án của ông S khởi kiện ông L1, ông N để giải quyết chung vụ án này.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Trần Thanh S về việc yêu cầu ông S trả diện tích 5,5m² (hình 30, 20, 24) theo Trích đo địa chính số TĐ 646-2023 ngày 05/7/2023 của Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố P nằm trong GCNQSD đất số BV 539406 của bà H.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Trần Thanh S về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Trần Thanh S, bà Đỗ Thị Hoài L (vợ ông S) tự nguyện tháo dỡ, di dời hàng rào kiên cố trả diện tích đất 534,7m², thuộc thửa số 247, tờ bản đồ số 18, theo giấy chứng nhận QSD đất số CĐ 881915 và diện tích đất 1.201,0m², thuộc thửa số 191, tờ bản đồ số 18, theo giấy chứng nhận QSD đất BV 539406, đều tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Huỳnh Thị Ngọc H.

Diện tích đất 534,7m² được giới hạn bởi các cạnh: 3, 4, 9, 8 và diện tích đất 1.201,0m² được giới hạn bởi các các cạnh: 8, 9, 20, 30, 18, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và Tờ trích đo địa chính số: TĐ 646-2023, ngày 05/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P.

Hàng rào được thể tại biên bản thẩm định hiện trạng tài sản ngày 13/4/2023 và Chứng thư định giá số: 47/CTĐG-VATA ngày 22/9/2023 của Công ty TNHH MTV Đ1.

4. Bà Huỳnh Thị Ngọc H có quyền và nghĩa vụ tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 539400 theo quy định của pháp luật đất đai.

Ngoài ra bản án còn quyết định chi phí tố tụng về án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm.

Ngày 02 tháng 4 năm 2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1 có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 03 tháng 4 năm 2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 05 tháng 4 năm 2024 bị đơn ông Trần Thanh S có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Ông Huỳnh Hải L1, ông Lê Văn N, ông Trần Thanh S kháng cáo có cùng nội dung. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện của nguyên đơn ông Ngô Đức D yêu cầu cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

- Đại diện của bị đơn ông Trần Thanh S là ông H1, giữ nguyên nội dung kháng cáo của bị đơn và yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm với lý do hủy bản án sơ thẩm để đưa bà Đinh Thị T4 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và hủy bản án để chuyển về Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc nhập vào vụ án ông S đang khởi kiện ông N có liên quan đến diện tích đất của ông N chuyển nhượng cho anh L1 mà Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đang thụ lý, giải quyết.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L1; Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, ông N là ông H2 giữ nguyên nội dung kháng cáo và yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm: Lý do hủy giống như yêu cầu của ông H1.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L1 là Luật sư S1 yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm. Lý do hủy bản án là cấp sơ thẩm không đưa một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như bà Đinh Thị T4 và một số chủ đất cũ đã chuyển nhượng đất lại cho nguyên đơn và bị đơn vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự; Tờ trích đo địa chính tại cấp sơ thẩm và tờ trích đo địa chính tại cấp phúc thẩm có sai lệch số đo không trùng khớp với nhau, Ủy ban nhân dân cấp GCNQSD đất của bà H trùm lên con đường lộ dân sinh, nhưng không đưa các hộ dân vào tham gia tố tụng. Ngoài ra, phần đất của bà H chuyển nhượng của ông D1 thời điểm đó đường lộ Cửa cạn D chiều ngang có 10m, nhưng nay là khoản 30m, nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N, ông Huỳnh Hải L1; Áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, lý do tại cấp phúc thẩm có phát sinh thêm một số tình tiết mới.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1, ông Lê Văn N về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Thanh S tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình kiến trúc, tường rào xây dựng trái phép và trả lại diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 534,7m² thuộc một phần thửa số 247, tờ bản đồ số 18, theo giấy chứng nhận QSD đất số CĐ 881915 và diện tích đất đo đạc thực tế 1.201,0m² thuộc một phần thửa số 191, tờ bản đồ số 18, theo giấy chứng nhận QSD đất BV 539406 cấp ngày 20/6/2016, tổng diện tích 1.735,7m², đất tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ông S cho rằng phần đất này do ông chuyển nhượng của bà Trần Ngọc Q và ông Trần N1, khi giao đất có cả chủ đất cũ là bà Nguyễn Thị M và ông Lê Văn N đều khẳng định mốc giới đất đúng hiện trạng khi tách sổ ông không đồng ý giao trả nên hai bên phát sinh tranh chấp.

[3] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Hải L1, ông Lê Văn N, ông Trần Thanh S kháng cáo có cùng nội dung. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Ông S cho rằng Tòa án không thu thập đầy đủ chứng cứ và không xem xét đầy đủ các tình tiết khách quan của vụ án liên quan đến tình trạng thực tế khu vực đất tọa lạc tại ấp Ô, xã C, thành phố P có sự sai lệch về tọa độ, mốc giới của nhiều thửa đất, để giải quyết toàn diện vụ án; thửa đất số 191 của bà Huỳnh Thị Ngọc H đang tranh chấp với ông Trần Thanh S đang bị sai lệch tọa độ bao trùm lên 200m² phần đường lộ; Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thụ lý kịp thời đơn khởi kiện của ông Trần Thanh S kiện ông Huỳnh Hải L1, ông Lê Văn N2 để nhập vụ án nhằm giải quyết toàn diện vụ án bà H khởi kiện ông S.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Tại Công văn số 1414/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 10/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P trả lời như sau: Căn cứ theo ranh giới, tọa độ của giấy chứng nhận số BV 539406 ngày 23/6/2015 của bà Huỳnh Thị Ngọc H và giấy chứng nhận số BH 939674 ngày 21/02/2012 của ông Trần Thanh S đối chiếu bản đồ địa chính thì ranh giới 02 thửa đất trên không trùng lấn ranh nhau. Căn cứ theo ranh giới, tọa độ của giấy chứng nhận số CĐ 881915 ngày 30/6/2016 của bà Huỳnh Thị Ngọc H và giấy chứng nhận số BH 939674 ngày 21/02/2012 của ông Trần Thanh S đối chiếu bản đồ địa chính thì ranh giới 02 thửa đất trên không trùng lấn ranh nhau. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận QSD đất số CĐ 881915 ngày 30/6/2016 cho ông A Văn M2 và bà Trương Liên P, thửa đất số 247, tờ bản đồ số 18, diện tích 3207,4m² là đúng quy định, trình tự, thủ tục theo quy định (BL 264).

- Tại Công văn số 2355/UBND-NCPC ngày 27/12/2023 của UBND thành phố P trả lời như sau: UBND thành phố P khẳng định việc cấp các giấy chứng nhận số Y 851015 ngày 13/7/2004 cho ông Phạm Tấn D1, giấy chứng nhận số AÐ 342787 ngày 07/12/2006 cho bà Võ Thị Thu T5, giấy chứng nhận số BO 400921 ngày 06/10/2014 cho bà Võ Thị Thu T5, giấy chứng nhận số BV 539406 ngày 23/6/2015 cho bà Phạm Thị Thảo T6, giấy chứng nhận số BV 539405 ngày 23/6/2015 cho bà Tống Như Q1, giấy chứng nhận số CĐ 881915 ngày 30/6/2016 cho ông A Văn M2, bà Trương Liên P, giấy chứng nhận số Y 851030 ngày 06/7/2004 cho ông Huỳnh Thành L3, giấy chứng nhận số AK 270986 và giấy chứng nhận số AK 270987 cùng ngày 18/02/2008 cho bà Trương Thị N3, ông Lê Văn N, giấy chứng nhận số BH 939674 ngày 21/02/2012 cho bà Trần Ngọc Q, ông Trần Nguyễn L5 đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai. Tại thời điểm cấp các giấy chứng nhận nêu trên được đo đạc và có sự thống nhất ranh giới sử dụng đất của các chủ sử dụng đất giáp ranh, vị trí cấp giấy chứng nhận không chồng lấn với các hộ có đất giáp ranh. (BL 265-268).

[4] Xét các tờ trích đo địa chính:

* Theo tờ trích đo địa chính số: 646-2023 ngày 05/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì các thửa đất thể hiện số đo cụ thể như sau:

- Thửa đất 191, tờ bản đồ số 18, diện tích 7008,6m² theo giấy CNQSD đất số BV 539406 chủ sử dụng bà Huỳnh Ngọc H được giới hạn các cạnh 9, 8, 19, 10, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 30, 24 và 20. Trong đó:

+ Phần đất bà H sử dụng không tranh chấp có diện tích là 5006,5m², được giới hạn bởi các điểm sau: 8, 19, 10,12, 13, 14, 15, 16, 17, 18.

+ Phần đất bà H tranh chấp với ông S có diện tích là 1201,0m², được giới hạn bởi các điểm sau: 8, 18, 30, 20 và 9.

+ Phần đất bà H sử dụng không tranh chấp có diện tích là 5,5m², được giới hạn bởi các điểm sau: 20,24 và 30.

- Thửa đất 247, tờ bản đồ số 18, diện tích 3207,4m² theo giấy CNQSD đất số CĐ 881915 chủ sử dụng bà Huỳnh Ngọc H được giới hạn các cạnh: 1, 2, 3, 4, 9, 8, 19, 10). Trong đó:

+ Phần đất bà H sử dụng không tranh chấp có diện tích là 2672,7m², được giới hạn bởi các điểm sau: 1, 2, 3, 8, 19, 10.

+ Phần đất bà H tranh chấp với ông S có diện tích là 534,7m², được giới hạn bởi các điểm sau: 3, 4, 9, 8.

* Theo tờ trích đo địa chính số: 08-2025 ngày 07/01/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì các thửa đất thể hiện số đo cụ thể như sau:

- Thửa đất 191, tờ bản đồ số 18, diện tích 7008,6m² theo giấy CNQSD đất số BV 539406 chủ sử dụng bà Huỳnh Ngọc H được giới hạn các cạnh 9, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 59, 58, 57, 55, 11, 62 và 10.

+ Diện tích 1184,6m² là đất tranh chấp giữa ông S và bà H, được giới hạn các điểm 22, 23, 24, 11 và 62.

+ Diện tích 6,2m² là đất tranh chấp giữa ông S, ông L1 và bà H, được giới hạn các điểm số 24, 23, 57 và 55.

+ Diện tích 207,7m² hiện trạng là đường đi bê tông, được giới hạn các điểm số 20, 59, 58, 57, 23, 22 và 21.

+ Diện tích còn lại 5610,1m² (trong đó có 695,2m² thuộc hành lang ATGT đường bộ) bà H sử dụng (không tranh chấp).

- Thửa đất 247, tờ bản đồ số 18, diện tích 3207,4m² theo giấy CNQSD đất số CĐ 881915 chủ sử dụng bà Huỳnh Ngọc H được giới hạn các điểm: 2, 9, 10, 62, 11, 12, 4 và 3. Trong đó:

+ Diện tích 530,9m² là đất tranh chấp giữa ông S và bà H, được giới hạn các điểm số 4, 62, 11 và 12.

+ Diện tích 2676,5m² (trong đó có diện tích 277,3m² thuộc hành lang ATGT đường bộ) bà H sử dụng, không tranh chấp.

Theo Biên bản của Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố P ngày 28/02/2022 về việc đo đạc hiện trạng; triển khai, bàn giao điểm đỉnh thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận ra thực địa, kết luận ranh giới đo đạc thực tế từ điểm số 8,9,10,15,14 và 13 là hiện trạng đường bê tông diện tích 195,7m² nằm trong GCNQSDĐ của bà Huỳnh Thị Ngọc H (có sơ đồ kèm theo); Tờ trích đo địa chính số TĐ 646-2023 ngày 05/7/2023 thì giáp diện tích đất tranh chấp 1.201m² nằm trong GCNQSDĐ của bà H là con đường rộng 5,2m, không thể hiện con đường bê tông nằm trong GCNQSDĐ của bà H như biên bản thể hiện, cho thấy có sự mâu thuẩn về ranh giới đất chưa được cấp sơ thẩm làm rõ;

Đồng thời ngày 09/8/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang có lập biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và tờ trích đo địa chính số TĐ 08-2025 ngày 07/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Kiên Giang thể hiện diện tích 207,7m² là hiện trạng đường đi nằm trong GCNQSDĐ cấp cho bà H. Cho thấy việc cấp GCNQSDĐ cho bà H có sai lệch tọa độ nên dẫn đến GCNQSDĐ của bà H nằm trên con đường và theo như lời trình bày của những hộ dân thuộc tổ 2 ấp Ông L2 đây là con đường lộ để lưu thông hàng ngày của các hộ dân, do đó nếu bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật thì một phần con đường sẽ thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà H, nếu bà Hà rào con đường để sử dụng sẽ ảnh hưởng đến lưu thông của các hộ dân, việc này chưa được cấp sơ thẩm làm rõ;

Mặt khác, diện tích tranh chấp có sự khác nhau theo Tờ trích đo địa chính TĐ 646-2023 ngày 05/7/2023 thửa 247 diện tích 534,7m², thửa 191 diện tích 1.201m² nhưng Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 thì thửa 247 diện tích 530,9m², thửa 191 diện tích 1.184,6m².

Qua đối chiếu các biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc; tờ trích đo địa chính số TĐ 646-2023 ngày 05/7/2023 của văn phòng đăng ký đất đai thành phố P; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang và tờ trích đo địa chính số TĐ 08-2025 ngày 07/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì các số đo của các phần đất thể hiện số liệu không trùng khớp với nhau.

Ngoài ra, theo trích đo địa chính số 646-2023 ngày 05/7/2023 thì không thể hiện diện tích đất 251m² nhưng theo trích đo địa chính 08-2025 thì thể diện tích đất 251m² không nằm trong giấy của bà H nhưng nằm ngoài ranh đất của bà H, cặp đường đi bê tông Theo trích đo địa chính số TĐ:646-2023 không thể hiện, nhưng theo trích đo số: 08-2025 thì thể hiện diện tích đất này và phần đất này cũng chưa được làm rõ. Ngoài ra theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì phần đất ông S đang sử dụng có diện tích 275m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đinh Thị T4 nhưng cấp sơ thẩm không đưa bà T4 vào tham gia tố tụng để làm rõ diện tích đất nói trên thì chưa đảm bảo được quyền lợi của bà T4 và xác định đây cũng là tình tiết mới chưa được xem xét.

Đối với phần đất bà H tranh chấp với ông S thì có liên quan đến các phần đất liền kề với nhau cụ thể là đất của ông N, ông L1, nhưng tại cấp sơ thẩm những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu cấp sơ thẩm giải quyết chung cùng vụ án nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét, nếu tách vụ án ra để giải quyết thì không đảm bảo giải quyết triệt để vụ án.

[5] Do đó, xét thấy kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1 và ông Lê Văn N yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc giải quyết lại thủ tục sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.

[6] Từ những nhận định nêu trên nên trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1 và ông Lê Văn N; người đại diện theo ủy quyền của ông S, người đại diện theo ủy quyền của ông L1, ông N; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L1. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[7] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1, ông Lê Văn N được chấp nhận nên ông S, ông L1, ông N không phải chịu án phí phúc thẩm.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông S số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000087 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (chị Ngô Thị L6 nộp thay).

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Huỳnh Hải L1 số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000034 ngày 03/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bị đơn ông Trần Thanh S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hải L1, ông Lê Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, do kháng cáo của ông S, ông L1, ông N được chấp nhận.

    Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông S số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000087 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (chị Ngô Thị L6 nộp thay).

    Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Huỳnh Hải L1 số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000034 ngày 03/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND thành phố Phú Quốc;
  • - THA dân sự thành phố Phú Quốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 42/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H tranh chấp QSD đất với ông S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger