Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/DS - PT

Ngày: 11/06/2025

V/v "Tranh chấp chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quân

Các thẩm phán: Bà Đào Thị Thu Thuỷ

Ông Lê Ngọc Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLPT-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, có bà Mai Thị K, bà Nguyễn Thị H bà Nguyễn Thị V, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1 kháng cáo; Có kháng nghị của VKS nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09 /2025/QĐ - PT ngày 13 tháng 03 năm 2025; và các Quyết định hoãn phiên toà giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1955 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • - Bị đơn: Bà Trịnh Thị N - Sinh năm: 1960 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bà N là Chị Nguyễn Thị H1 - Sinh năm: 1987 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1/ Ông Nguyễn Hữu M - Sinh năm: 1958 - Địa chỉ: Số nhà C đường D, thôn B, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1955 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • 2/ Bà Nguyễn Thị V - Sinh năm: 1949 - Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • 3/ Anh Phạm Việt C - Sinh năm: 1979 - Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • 4/ Chị Phạm Thị Thu H2 - Sinh năm: 1981 - Địa chỉ: Số nhà C, ngõ D, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  • 5/ Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1985 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  • 6/ Anh Nguyễn Hữu T1 - Sinh năm: 1988 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  • 7/ Chị Nguyễn Thị H1 - Sinh năm: 1987 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • 8/ Anh Nguyễn Hữu V1 - Sinh năm: 1992 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
  • 9/ Bà Mai Thị K - Sinh năm 1949 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của anh V1, chị H2 là chị Chị Nguyễn Thị H1 - Sinh năm: 1987 - Địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  • 10/ Bà Mai Thị N1 - Sinh năm 1952 - Địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  • 11/ Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị H3 - Chức vụ: Chủ tịch.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn H4 - Chức vụ: Phó Chủ tịch. Vắng mặt.
  • - Người làm chứng:
  • 1/ Ông Bùi Văn S - Sinh năm 1949 - Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (đã chết).
  • 2/ Ông Mai Văn D - Sinh năm 1972 - Địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị H trình bày: Bố bà là cụ Nguyễn Hữu H5, sinh năm 1912, chết ngày 02/7/1987, mẹ bà là cụ Mai Thị L, sinh năm 1913, chết ngày 06/6/2006. Bố mẹ bà sinh được 06 người con là bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1945, chết năm 2003; bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1949; ông Nguyễn Hữu H6, sinh năm 1952, chết năm 2012; ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1958; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955 và ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1960, chết năm 2021. Bà Nguyễn Thị L1 có 02 người con là anh Phạm Việt C, sinh năm 1979 và chị Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1981; ông Nguyễn Hữu H6 có vợ là bà Mai Thị K và có 02 người con là chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 và anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1988; ông Nguyễn Hữu Q có vợ là bà Trịnh Thị N và có 02 người con là chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Hữu V1.

Quá trình chung sống bố mẹ bà tạo dựng được mảnh đất thổ cư với diện tích đất ở 502m² giá trị khoảng 1.000.000.000₫ và tài sản khác gồm: 01 Nhà ngói hướng Tây 04 gian xây dựng năm 1976 giá trị 20.000.000 đồng; 01 Nhà bếp 02 gian giá trị 5.000.000 đồng; Sân phơi và giếng khơi trị giá 2.000.000 đồng; 03 cây dừa trị giá 400.000 đồng/cây = 1.200.000 đồng; 01 cây trứng gà trị giá 300.000 đồng; 01 cây xoài trị giá 300.000 đồng; 15 cây na x 100.000 đồng/cây = 1.500.000 đồng; 01 cây bưởi trị giá 300.000 đồng; 15 bụi chuối trị giá 200.000 đồng/bụi = 3.000.000 đồng; 03 bụi tre trị giá 300.000đồng/bụi = 900.000 đồng; 06 cái chum trị giá 50.000đồng/cái = 300.000 đồng; 01 rương gỗ trị giá 200.000 đồng; 01 mâm đồng trị giá 50.000 đồng; tổng giá trị là 35.100.000 đồng.

Trước lúc chết bố bà không để di chúc cho bất kỳ ai. Năm 2012, ông Nguyễn Hữu Q lập thừa kế giả là Đơn xin thừa kế ngày 30/4/2004. Trong lá đơn này anh, chị em trong gia đình bà không ký vào chỗ người đồng ý thừa kế mà do ông Nguyễn Hữu Q đã giả mạo chữ ký của chị em bà để ký vào. Sau đó thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 100657 được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 31/01/2012 mang tên Nguyễn Hữu Q.

Trước sự việc kể trên, chị em bà họp gia đình bàn bạc chia tài sản thừa kế của bố mẹ để lại nhưng bà Trịnh Thị N (vợ ông Nguyễn Hữu Q) không đồng ý, chị em bà có đơn đề nghị UBND thị trấn N hòa giải nhưng không thành.

Năm 2022, bà đã làm đơn khởi kiện đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 100657 được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 31/01/2012 mang tên Nguyễn Hữu Q. Tại Bản án số 68/2022/HCST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Bản án số 790/2023/HC-PT ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xử: Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 100657 được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 31/01/2012 mang tên Nguyễn Hữu Q tại thửa 238, tờ bản đồ số 03, bản đồ địa chính xã N.

Nay bà H yêu cầu như sau: Đối với các tài sản trên đất sau khi thẩm định không còn trên thực tế, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với diện tích đất tại thửa đất 238, tờ bản đồ số 03, bản đồ địa chính xã N (đề nghị xác định theo diện tích đo đạc thực tế để chia sau khi trừ đi diện tích ngõ đi vào nhà N1) là di sản của cụ H5 và cụ L: phần di sản do cụ H5 để lại, hiện đã hết thời hiệu khởi kiện, bà đề nghị xác định là tài sản chung, chia thành 06 phần cho bà và những người con khác của cụ H5, cụ L. Phần di sản cụ L để lại, đề nghị chia thành 06 phần cho các đồng thừa kế. Phần di sản mà bà được hưởng, bà đề nghị được nhận bằng hiện vật. Tại phiên tòa hôm nay, bà H đề nghị chỉ chia thành 05 phần, không chia cho ông Nguyễn Hữu Q vì ông Q có hành vi lừa dối, lập di chúc giả.

Về ngõ đi vào nhà bà Mai Thị N1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo ngõ pháp lý nằm ở phía Bắc của thửa đất.

* Tại bản trình bày ý kiến ngày 02/4/2024 và trong quá trình giải quyết, bị đơn bà Trịnh Thị N trình bày:

Bà về làm dâu từ năm 1985, cụ H5, cụ L sống cùng gia đình bà. Từ năm 1996 vợ chồng bà về sinh sống tại xóm B, xã N cũ (nay là tiểu khu Y, thị trấn N), huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Cuộc sống gia đình bà và các anh chị của chồng bà hòa thuận, không có tranh chấp, mâu thuẫn. Cuối năm 2003, mẹ chồng bà là cụ L chuyển về sống cùng với vợ chồng bà. Khi cụ L chuyển về ở cùng thì cụ có tình trạng sức khỏe tốt, đầu óc minh mẫn, tinh thần tỉnh táo, tự chủ trong mọi hành vi, mọi suy nghĩ và việc làm mà không bị chi phối ảnh hưởng do tác động của người khác. Trong quá trình cụ L sống cùng vợ chồng bà, các anh chị của chồng bà vẫn thường xuyên qua lại với cụ L và vợ chồng bà. Đầu năm 2006, cụ L ốm do có khối u ở phần bụng dưới bên trái, đến ngày 06/6/2006 (âm lịch) thì cụ chết (cụ L vẫn minh mẫn đến tận lúc chết). Theo bản án số 790/2023/HC- PT ngày 31/10/2023: Sửa bản án hành chính sơ thẩm số 68/2022/HC-ST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa từ hủy ½ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Hữu Q, các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Theo bản án hành chính sơ thẩm số 68/2022/HC-ST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa có nhận định: về nguồn gốc đất là do tài sản chung của bố mẹ chồng bà để lại là cụ Nguyễn Hữu H5 và cụ Mai Thị L. Cụ H5 chết không để lại di chúc, trước khi cụ L chết có để lại "Đơn xin thừa kế tài sản nhà cửa và đất thổ cư." Tại mục [3.2] Tòa án nhận định tính hợp pháp của " Đơn xin thừa kế tài sản nhà cửa và đất thổ cư" của mẹ chồng bà là cụ Mai Thị L có quyền định đoạt ½ khối di sản của vợ chồng ông bà cho con trai út là chồng bà ông Nguyễn Hữu Q ½ khối di sản còn lại của ông bà nội bà đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Mặt khác, theo các diễn biến (giao nộp chứng cứ, tiếp cận, đối thoại..) và nhận định của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa sơ thẩm: Bố mẹ chồng bà có 6 người con, trong đó có bà Nguyễn Thị V tại thời điểm mà ông Bùi Văn S (chồng bà V) là người được cụ L nhờ viết “Đơn xin thừa kế tài sản nhà cửa và đất thổ cư” sau đó bản thân ông S cũng là người hướng dẫn mẹ chồng bà về cách lăn tay điểm chỉ trong đơn sao cho đúng do ông có chuyên môn về lĩnh vực đất đai và sau đó bà V cũng đã ký đồng ý cho ông Nguyễn Hữu Q phần bà V được hưởng; ông Nguyễn Hữu H6 tại thời điểm đó có mặt và đã ký vào đồng ý cho ông Q phần ông được hưởng; bà Nguyễn Thị L1 tại thời điểm viết "Đơn xin thừa kế tài sản nhà cửa và đất thổ cư" thì bà L1 đã mất nhưng khi hỏi ý kiến của 2 người con của bà Lượt là anh C, chị H2 đều đồng ý và đến thời điểm này vẫn giữ nguyên ý kiến là cho ông Q phần mà mẹ các cháu được hưởng. Còn ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị H lúc đó ở xa nên chưa ký vào "Đơn xin thừa kế tài sản nhà cửa và đất thổ cư" của cụ L.

Về tài sản trên đất bà H kê khai sau khi thẩm định không còn trên thực tế, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với diện tích đất là di sản của cụ H5, cụ L (đề nghị xác định theo diện tích đo đạc thực tế để chia sau khi trừ đi diện tích ngõ đi vào nhà bà N1): Phần di sản của cụ H5 những người chưa ký vào trong Đơn thừa kế chia cho người đó, những người ký cho nhà bà rồi thì vẫn giữ nguyên cho nhà bà. Phần di sản của cụ L đã cho ông Q, bà đề nghị giữ nguyên, không chia. Phần tài sản bà được hưởng, bà đề nghị được nhận bằng hiện vật và đề nghị giao toàn bộ cho anh Nguyễn Hữu V1, không yêu cầu anh V1 phải thanh toán lại giá trị. Khi chia thừa kế, đề nghị trích công sức duy trì, bảo quản tài sản và công sức chăm sóc các cụ cho bà.

Về ngõ đi vào nhà bà N1: Từ năm 1985, khi bà về đây làm dâu ngõ đi vào nhà bà N1 nằm ở phía Bắc của thửa đất, ông Q (chồng bà) và ông T2 (chồng bà N1) đổi ngõ sang ngõ đi như hiện trạng, 2 bên đổi ngõ cho nhau không có giấy tờ, không tính giá trị và cũng không ra xã để làm thủ tục, bà đề nghị giữ ngõ đi theo hiện trạng là ở phía Nam cho gia đình bà N1.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu M (người đại diện theo ủy quyền của ông M là bà Nguyễn Thị H): Ông là con của cụ Nguyễn Hữu H5 và cụ Mai Thị L. Về họ tên bố mẹ, năm sinh, năm chết, những người con của các cụ và ý kiến của ông thống nhất như ý kiến của bà H trình bày ở trên. Phần diện tích đất mà ông M được hưởng theo quy định, đề nghị giao cho bà K, bà K có trách nhiệm thanh toán giá trị cho ông M.

Về ngõ đi vào nhà bà N1: Đề nghị Tòa án giải quyết theo ngõ pháp lý nằm ở phía Bắc của thửa đất.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V: Bà là con của cụ Nguyễn Hữu H5 và cụ Mai Thị L. Về họ tên bố mẹ, năm sinh, năm chết và những người con của các cụ, bà thống nhất như ý kiến của bà H trình bày ở trên. Về tài sản trên đất, bà xác nhận cụ H5 và cụ L có để lại các tài sản do bà H trình bày là đúng. Về đơn thừa kế: ông Q nhờ ông S viết, còn việc xin chữ ký như thế nào ông Q nói sẽ tự lo nên đơn thừa kế không hợp pháp.

Về di sản thừa kế của cụ H5, cụ L: Bà đồng ý với ý kiến của bà H: đối với phần di sản của cụ H5 để lại đã hết thời hiệu chia thừa kế, bà đề nghị xác định là tài sản chung và yêu cầu chia theo quy định của pháp luật. Đối với di sản của cụ L, bà đề nghị chia đều cho 06 đồng thừa kế. Phần của bà được hưởng, đề nghị nhận bằng hiện vật nhưng giao lại cho bà H, bà H có trách nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền cho bà.

Về ngõ đi vào nhà bà N1: bà đề nghị Tòa án giải quyết theo ngõ pháp lý nằm ở phía Bắc của thửa đất.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị K: Bà là vợ ông Nguyễn Hữu H6 (sinh năm 1952, chết năm 2012) và sinh được 02 người con là chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hữu T1. Quá trình chung sống, bố mẹ chồng bà tạo dựng được mảnh đất thổ cư như bà Nguyễn Thị H trình bày là đúng. Trước lúc chết, cụ H5 không để di chúc cho bất kỳ ai. Năm 2012, ông Nguyễn Hữu Q lập thừa kế giả là Đơn xin thừa kế ngày 30/04/2004. Trong lá đơn này anh chị em không ký vào chỗ người đồng ý thừa kế mà do ông Q đã giả mạo chữ ký để ký vào. Sau đó thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM100657 được UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 31/01/2012 mang tên Nguyễn Hữu Q. Tại Bản án số 68/2022/HCST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Bản án số 790/2023/HC-PT ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xử: Hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 100657 được UBND huyện N cấp ngày 31/01/2012 mang tên Nguyễn Hữu Q, tờ bản đồ số 03 bản đồ địa chính xã N. Bà thống nhất với quan điểm của bà H đề nghị, phần di sản bà được hưởng theo quy định bà đề nghị được nhận bằng hiện vật, phần ông M giao cho bà, bà đồng ý nhận.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Việt C và chị Phạm Thị Thu H2: Anh, chị là con của bà Nguyễn Thị L1 (chết năm 2003). Quan điểm của anh, chị: Về tài sản trên đất không còn, anh, chị không đồng ý với đề nghị của bà H. Về diện tích đất: Phần diện tích đất của cụ H5 để lại: Ý kiến của anh C đề nghị chia cho 06 người con của cụ H5; ý kiến của chị H2 đề nghị giữ nguyên cho gia đình ông Q. Phần diện tích đất của cụ L đã cho ông Q theo đơn thừa kế, anh, chị đề nghị giữ nguyên. Nếu phải chia theo quy định của pháp luật, phần anh, chị được hưởng, đề nghị giao cho anh V1, không yêu cầu anh V1 phải thanh toán lại giá trị. Về ngõ đi vào nhà bà N1, trước đây đi ở phía Bắc, sau khi nhà bà N1 xây nhà đi phía Nam, anh, chị đề nghị công nhận ngõ hiện trạng như gia đình bà N1 đang sử dụng là ở phía Nam.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H1: Chị là con của ông Nguyễn Hữu Q và bà Trịnh Thị N. Quan điểm của chị: Tài sản trên đất không còn, chị không đồng ý với yêu cầu của bà H. Phần diện tích đất của cụ H5 để lại đã giao cho bố chị từ trước, còn phần diện tích đất của cụ L đã cho bố chị theo Đơn thừa kế, chị đề nghị giữ nguyên cho bố chị, nay bố chị đã chết, chị đề nghị giao lại toàn bộ diện tích đất của cụ H5 và cụ L cho em chị là anh Nguyễn Hữu V1. Nếu chia thừa kế theo quy định, phần của chị được hưởng, chị đề nghị giao lại cho anh V1, không yêu cầu anh V1 phải thanh toán lại giá trị. Về ngõ đi vào nhà bà N1, trước đây là phía Bắc, sau này nhà bà N1 làm nhà đổi sang ngõ hướng Nam để đi vào cho thuận tiện, chị đề nghị công nhận ngõ hiện trạng như gia đình bà N1 đang sử dụng.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hữu V1: Anh là con của ông Nguyễn Hữu Q và bà Trịnh Thị N. Anh thống nhất như quan điểm của chị Nguyễn Thị H1. Do bố anh đã chết nên anh đồng ý nhận lại toàn bộ di sản này, còn nếu phải chia theo quy định thì phần của bà Trịnh Thị N, chị Nguyễn Thị H1, anh Phạm Việt C, chị Phạm Thị Thu H2 cho anh, anh đồng ý nhận.

Về ngõ đi vào nhà bà Mai Thị N1, anh đề nghị giữ nguyên như ngõ hiện trạng nằm về phía Nam của thửa đất cho gia đình bà N1.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hữu T1 và chị Nguyễn Thị T. Anh, chị là con của ông Nguyễn Hữu H6 (chết năm 2012). Tài sản của ông bà nội để lại là diện tích đất 580m² tại thửa đất 238, tờ bản đồ số 03, bản đồ địa chính xã N có giá trị khoảng 1.000.000.000đ. Do ông nội là cụ Nguyễn Hữu H5 chết năm 1987, đã 37 năm hết thời hiệu chia thừa kế nên đề nghị xác định là tài sản chung chưa chia, chia cho các con của cụ H5, cụ L. Còn phần của bà nội là cụ Mai Thị L để lại chia thành 6 phần cho các đồng thừa kế. Phần di sản mà ông H6, ông M, bà V, bà H đề nghị được nhận bằng hiện vật để quản lý và xây nhà thờ cho các cụ. Phần thừa kế anh, chị được hưởng giao cho bà H góp vào để làm nhà thờ.

* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị N1: Bố chồng bà và cụ H5 là hai anh em ruột. Năm 1970, bà về đây làm dâu và ở cùng bố mẹ chồng sinh sống trên thửa đất số 239, tờ bản đồ số 03 (BĐ-ĐC xã N). Sau khi bố mẹ chồng bà chết thì để lại cho gia đình bà. Năm 1972, ông Q (con cụ H5) và ông T2 (chồng bà) đổi ngõ đi vào sang ngõ pháp lý giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu Á. Ngày 24/9/2007, gia đình bà được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSD đất số AM 384898 đứng tên chồng bà là ông Nguyễn Hữu T2. Đến năm 2011, chồng bà chết. Trước khi chết, hai bên đổi lại ngõ cho nhau, ngõ đi vào nhà thành ngõ như hiện tại. Khi đổi ngõ, ông T2 và ông Q không có giấy tờ, không tính giá trị tiền. Kể từ đó, gia đình bà sử dụng ngõ đi như hiện tại, không ai có ý kiến gì. Diện tích ngõ đi vào gia đình bà không thuộc đất của gia đình bà. Về yêu cầu chia thừa kế của bà H, bà không ý kiến gì, về ngõ đi của gia đình bà, bà đề nghị giữ nguyên ngõ đi như hiện tại vì ngõ đi này đã có từ khi bà về đây làm dâu cho đến bây giờ. Nếu có phải đi theo ngõ đi về phía Bắc, gia đình bà vẫn có thể đi được nhưng không rộng rãi như ngõ đi hiện trạng ở phía Nam.

* Ý kiến của người làm chứng – ông S trình bày: Đơn thừa nói trên là trái quy định, ông Q nhờ ông viết theo ý của ông Q, không có sự chứng kiến của những người con trong gia đình, sau đó ông Q đi xin chữ ký. Ông thống nhất với quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Hữu Q.

- * Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

- Về diện tích đất: Hiện trạng sử dụng đất đã có sự thay đổi so với sơ đồ pháp lý về ngõ đi vào thửa đất số 239 của gia đình bà Mai Thị N1 (ngõ đi pháp lý là phía Bắc của thửa đất 238, ngõ đi hiện trạng là phía Nam của thửa đất 238). Theo bà N1 và các đương sự trình bày: Hai gia đình đã đổi ngõ đi cho nhau nên hiện trạng sử dụng đất đã có sự thay đổi. Vị trí tiếp giáp: Phía Đông giáp nhà bà Mai Thị N1; Phía Tây giáp đường liên thôn; Phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Hữu N2; Phía Bắc giáp nhà ông Nguyễn Hữu Á. Tổng diện tích thửa đất 238 đo thực tế là 594,2m² (gồm cả ngõ hiện trạng và ngõ pháp lý). Về giá trị: Toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác định là đất ở: Theo giá nhà nước (Quyết định số 512/2023/QĐ-UBND ngày 30/12/2023) có giá trị 2.600.000đ/m²; theo giá thị trường: 5.200.000đ/m².

- Tài sản trên đất: Tường gạch đặc kết hợp thép B40 diện tích 27.06m², giá trị khấu hao còn lại 5.601.420đ (do gia đình bà Mai Thị N1 xây dựng); T3 xây bằng gạch block kín 26.266m², giá trị khấu hao còn lại 2.442.738₫ (do gia đình bà Mai Thị N1 xây dựng); Đoạn tường đá phấn diện tích 19.12m² đã hết giá trị khấu hao (là đoạn tường nhà cũ của cụ H5 và cụ L); N3 nền bê tông gạch vỡ, diện tích 79.4m², giá trị khấu hao còn lại 3.525.360₫ (do gia đình bà Mai Thị N1 xây dựng).

- Đối với các tài sản bà Nguyễn Thị H đề nghị gồm: 01 nhà ngói hướng Tây; 01 nhà bếp 02 gian; sân phơi và giếng khơi; 03 cây dừa; 01 cây trứng gà; 01 cây xoài; 15 cây na; 01 cây bưởi; 15 bụi chuối; 03 bụi tre; 06 cái chum; 01 rương gỗ; 01 mâm đồng. Hiện tại các tài sản này không còn nên Hội đồng định giá không xác định được giá trị của các tài sản này.

Sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ, có một số vấn đề chưa rõ nên Tòa án đã làm công văn hỏi UBND thị trấn N và UBND huyện N.

* Công văn số 147/CV-UBND ngày 27/6/2024 của UBND thị trấn N, trả lời như sau:

- Theo hồ sơ 299TTG được công nhận ngày 20/4/1984, thửa đất số 238, tờ bản đồ số 3 (thuộc thửa đất số 197; tờ bản đồ số 3 (BĐ-299TTg xã N cũ), phần ngõ đi theo bản đồ 299TTg ở phía Nam của thửa đất.

- Theo bản đồ địa chính xã N cũ được công nhận năm 2000, thửa đất 238, tờ bản đồ số 3 ( BĐ-ĐC xã Nga Mỹ cũ) phần ngõ đi nằm phía Bắc của thửa đất có diện tích 69,3m², cụ thể: Cạnh phía Bắc giáp thửa đất số 237, có kích thước 26,1m; Cạnh phía Nam giáp thửa đất số 238, có kích thước 26,2m; Cạnh phía Đông giáp thửa đất số 239, có kích thước 3,3m; Cạnh phía Tây giáp đường giao thông có kích thước 2,0m.

- Phần diện tích ngõ đi vào thửa đất nhà bà Mai Thị N1 do UBND xã quản lý.

- Phần ngõ đi do gia đình bà N1 và gia đình ông Q đổi đất ngõ cho nhau không được hai hộ gia đình báo cáo với UBND xã N cũ nay là thị trấn N, huyện N. Việc 02 hộ gia đình thống nhất đổi ngõ cho nhau theo hiện trạng không đúng theo bản đồ địa chính được công nhận năm 2003 do đó chính quyền sẽ không công nhận (vì thửa đất số 238 được cấp giấy chứng nhận theo bản đồ địa chính năm 2003).

- Phần diện tích tăng lên so với giấy chứng nhận QSD đất đã cấp được xác định sai số do việc đo đạc lập bản đồ địa chính năm 2003.

- Phần diện tích đất tăng lên được xác định nằm ở phía Tây của thửa đất và thuộc quyền quản lý của UBND thị trấn.

* Công văn số 2387/UBND-TNMT ngày 30/7/2024 của UBND huyện N trả lời như sau:

- Bản đồ địa chính là một trong các loại giấy tờ về hồ sơ địa chính trong trường hợp đơn vị hành chính cấp xã chưa lập được bản đồ địa chính thì sử dụng các loại giấy tờ khác như Bản đồ 299TTg là hồ sơ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này, xã N (cũ) được đo đạc địa chính năm 2000, bản đồ địa chính làm cơ sở để xác định diện tích và lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân.

- Phần kích thước ngõ đi được xác định theo bản đồ đo đạc địa chính năm 2000 xã N (cũ) nay thuộc thị trấn N.

* Sau khi UBND thị trấn N xác định diện tích ngõ đi vào thửa đất số 239 (nhà bà Mai Thị N1), Tòa án đã làm công văn đề nghị Công ty cổ phần Đxác định lại diện tích thửa đất số 238 sau khi trừ đi diện tích ngõ thì diện tích đất còn lại của thửa đất số 238 là 531.2m².

Tại bản tự khai ngày 18/11/2024, người làm chứng ông Mai Văn D trình bày: Vào năm 2004, ông là thôn trưởng thôn 8, xã N (nay là tiểu khu N, thị trấn N). Vào ngày 09/5/2004, ông Nguyễn Hữu Q có đem 01 Đơn xin thừa kế đề ngày 30/4/2004 của gia đình đến để ông ký xác nhận với nội dung như sau: “Qua đơn thừa kế của gia đình bà Mai Thị L thuộc công dân thôn H là đúng. Vậy đề nghị cấp trên xem xét”, sau đó, ông có ghi ngày, tháng, năm và ký xác nhận (chứ không xác nhận nội dung trong đơn). Tuy nhiên, khi viết ngày, tháng, năm thì ông ghi ngày, tháng đúng nhưng năm ghi nhầm thành 2005. Thực tế là ngày 09/5/2004 chứ không phải ngày 09/5/2005 và ông ký xác nhận trước khi có xác nhận của UBND xã N. Trong khi gia đình họp phân chia thừa kế thì ông không có mặt ở đó mà chỉ ký xác nhận khi ông Nguyễn Hữu Q mang đến.

Theo Công văn số 268/CV-UBND ngày 27/11/2024 của UBND thị trấn N: Thửa đất 238, tờ bản đồ số 3 (BĐ-ĐC xã Nga Mỹ cũ) phần diện tích tăng là 29,2m² của thửa đất nằm ở phía Tây, có kích thước các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc giáp ngõ đi, có kích thước 1,33m; cạnh phía Nam giáp thửa đất số 243, có kích thước 1,34m; cạnh phía Đông giáp thửa đất số 238, có kích thước 21,89m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông, có kích thước 21,86m.

*Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

  1. Căn cứ vào: Điều 659 BLDS năm 1995; Điều 613; khoản 1 Điều 623; Điều 650; Điều 651; Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về chia thừa kế tài sản của cụ Mai Thị L để lại là diện tích đất ở 251m², giá trị 1.305.200.000₫ (một tỷ ba trăm linh năm triệu hai trăm nghìn đồng) cho các đồng thừa kế.
  3. Giao phần di sản của cụ Nguyễn Hữu H5 đã hết thời hiệu khởi kiện với diện tích đất ở 251m², giá trị 1.305.200.000đ (một tỷ ba trăm linh năm triệu hai trăm nghìn đồng) cho anh Nguyễn Hữu V1.
  4. Cụ thể phân chia như sau:
    • Chia cho bà Nguyễn Thị H diện tích đất ở là 144m² giá trị 748.800.000đ (bảy trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) nằm về phía Bắc của thửa đất. Bà H phải thanh toán chênh lệch cho bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Hữu M mỗi người 187.200.000₫ (một trăm tám mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng); thanh toán tiền chênh lệch cho bà Mai Thị K, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1 mỗi người 62.400.000₫ (sáu mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Kích thước cụ thể như sau: Cạnh phía Đông giáp đất nhà bà Mai Thị N1 6,29m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 6,28m; cạnh phía Nam giáp đất anh Nguyễn Hữu V1 được chia 23,04m; cạnh phía Bắc giáp ngõ đi vào nhà bà Mai Thị N1 22,92m.
    • Tạm giao cho bà Nguyễn Thị H có quyền sử dụng diện tích đất thừa 8,4m² nằm ở phía Tây của thửa đất có kích thước các cạnh như sau: Cạnh phía Đông giáp đất bà H được chia 6,28m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 6,28m; cạnh phía Nam giáp đất tạm giao cho anh Nguyễn Hữu V1 1,33m; cạnh phía Bắc giáp ngõ đi vào nhà bà Mai Thị N1 1,33m. Bà H phải trả lại diện tích đất thừa này khi UBND thị trấn N thu hồi.
    • Chia cho anh Nguyễn Hữu V1 diện tích đất ở là 358m², giá trị 1.861.600.000₫ (một tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) nằm về phía Nam của thửa đất. Kích thước cụ thể như sau: Cạnh phía Đông giáp đất nhà bà Mai Thị N1 gồm các đường phân khúc 3,94m, 10,63m, 1,79m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 15,61m; cạnh phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị H được chia 23,04m; cạnh phía Bắc giáp nhà ông Nguyễn Hữu N2 21,73m.
    • Tạm giao cho anh Nguyễn Hữu V1 sử dụng diện tích đất thừa 20,8m² nằm ở phía Tây của thửa đất có kích thước các cạnh như sau: Cạnh phía Đông giáp đất anh V1 được chia 15,61m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 15,61m; cạnh phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Hữu N2 1,34m; cạnh phía Bắc giáp đất tạm giao cho bà Nguyễn Thị H 1,33m. Anh V1 phải trả lại diện tích đất thừa này khi UBND thị trấn N thu hồi.

    Bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hữu V1 có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

  5. Buộc bà Mai Thị N1 phải phá bỏ tường rào phía Nam và cổng ngõ để trả lại diện tích đất cho anh Nguyễn Hữu V1. Bà Trịnh Thị N có trách nhiệm thanh toán giá trị các tài sản cho bà N1 với số tiền là 11.569.518đ (mười một triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm mười tám đồng). Gia đình bà Mai Thị N1 phải trở lại ngõ đi về phía Bắc có diện tích là 69,3m², kích thước các cạnh cụ thể như sau: Cạnh phía Đông giáp đất gia đình bà N1 3,3m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 2,0m; cạnh phía Nam giáp đất giao cho bà Nguyễn Thị H gồm các đường phân khúc 1,33m, 22.92m, 1,95m; cạnh phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu Á gồm các đường phân khúc 24,15m, 1,95m.

    (Việc chia tài sản có sơ đồ về diện tích và tứ cận kèm theo bản án).

  6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Thị N, ông Nguyễn Hữu M, bà Nguyễn Thị V, bà Mai Thị K, bà Mai Thị N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Nguyễn Hữu V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 53.028.000₫ (năm mươi ba triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng).

    Anh Phạm Việt C và chị Phạm Thị Thu H2 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.680.000đ (bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

    Chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1, chị Nguyễn Thị H1 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.120.000đ (ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

    Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo và nghĩa vụ Thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

*Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà K, bà V, bà T, anh T1 kháng cáo với nội dung:

Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại gồm:

  • Huỷ bản toàn bộ bản án số 19/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.
  • Giữ nguyên 24,7m² diện tích ở ngõ pháp lý theo Thông báo thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2024 của TAND huyện Nga Sơn.
  • Phần đất của cụ Nguyễn Hữu H5 đề làm nhà thờ cho con cháu nhớ về cuội nguồn.
  • Phần đất của cụ Mai Thị L: Cụ L có 06 người con nhưng ông Q vi phạm Điều 621 BLDS nên không được hưởng thừa kế, phần của cụ L chia cho 05 người con.

VKS huyện N kháng nghị về việc tính án phí với anh Nguyễn Hữu V1, anh Phạm Việt C, chị Phạm Thị Thu H2 và chị Nguyễn Thị H1. Anh V1 không không phải chịu án phí với phần đất 251m2 hết thời hiệu thời kế, anh V1 phải chịu án phí với phần trích công sức duy trì di sản; bà Trịnh Thị N là người cao tuổi được miễn tiền án phí, miễn tiền án phí cho anh C, chị H2, chị H1.

* Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà V có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự có mặt, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người kháng cáo là Bà K, bà T và anh T1 và một số người liên quan khác vắng mặt không có lý do nên chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ theo bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa áp dụng Khoản 3 Điều 296, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thi K1, bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1.

Bác kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V2;

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo hướng.

Chấp nhận Kháng nghị số 01 của VKS Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá về việc không tính án phí đối với diện tích đất hết thời hiệu khởi kiện giao cho anh V1, đề nghị không tính án phí đối với chị anh Phạm Việt C, chị Phạm Thị Thu H2 và chị Nguyễn Thị H1 vì phần di sản này đã giao lại cho anh V1 được hưởng, anh V1 phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng.

Chấp nhận miễn tiền án phí cho chị T, anh T1 là gia đình chính sách do có tình tiết mới, anh T1, chị T có đơn xin miễn án phí.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên đề nghị HĐXX miễn án phí DSPT.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo trong hạn, các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau nội dung tranh chấp, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và nội dung kháng cáo. Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung ý kiến trình bày của mình nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên toà một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ lần hai vẫn vắng mặt nên HĐXX vẫn xét xử theo thủ tục chung.

[2]. Xét toàn bộ nội dung vụ án và nội dung kháng cáo của các đương sự:

[2.1]. Về thời hiệu thừa kế: Ngày 21/3/2024, Tòa án nhận được đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị H. Trước khi xét xử, các đương sự đều yêu cầu áp dụng thời hiệu. Do đó, xác định phần di sản của cụ Nguyễn Hữu H5, sinh năm 1912, chết ngày 02/7/1987 đã hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế. Cụ Mai Thị L, sinh năm 1913, chết ngày 06/6/2006, vẫn còn thời hiệu chia thừa kế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 632 BLDS năm 2015 và hướng dẫn tại phần I Nghị quyết số 01/NQ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Chánh án Tòa án ND tối cao về thời hiệu thừa kế bất động sản là 30 năm, tính từ ngày Pháp lệnh thừa kế có hiệu lực là ngày 10/9/1990. Như vậy cấp sơ thẩm đã xác định thời hiệu thừa kế của ông H5 đã hết là đúng quy định của pháp luật.

[2.2]. Xét về hàng thừa kế: Vợ chồng cụ Nguyễn Hữu H5, cụ Mai Thị L sinh được 06 người con chung là bà Nguyễn Thị L1; bà Nguyễn Thị V; ông Nguyễn Hữu H6; ông Nguyễn Hữu M; bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu Q; đây là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Bà Nguyễn Thị L1 có 02 người con là anh Phạm Việt C và chị Phạm Thị Thu H2. Bà L1 chết năm 2003, chết trước cụ L nên anh C và chị H2 là người thừa kế thế vị. Ông Nguyễn Hữu H6 có vợ là bà Mai Thị K và có 02 người con là chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1. Ông H6 chết năm 2012, chết sau cụ L nên bà K, chị T và anh T1 là những thừa kế chuyển tiếp của ông H6. Ông Nguyễn Hữu Q có vợ là bà Trịnh Thị N và có 02 người con là chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Hữu V1. Ông Q chết năm 2021, chết sau cụ L nên bà N, chị H1 và anh V1 là những thừa kế chuyển tiếp của ông Q. Tại phiên toà Phúc thẩm các đương sự không xuất trình thêm chứng cứ gì mới, đều thống nhất về hàng thừa kế như bản án sơ thẩm xác đinh hàng thừa kế là phù hợp.

[2.3]. Về di sản thừa kế: Thửa đất số 238, tờ bản đồ số 3, có nguồn gốc của cụ Nguyễn Hữu H5 và cụ Mai Thị L tạo lập. Năm 1987, cụ H5 chết không để lại di chúc. Cụ L cùng gia đình ông Nguyễn Hữu Q ăn ở và sinh sống từ đó đến năm 1996 gia đình ông Q chuyển đi nơi khác ở còn cụ L vẫn ở đó. Đến năm 2003, cụ L chuyển về sinh sống với gia đình ông Q, đến năm 2006 cụ L chết. Trên thửa đất không còn tài sản gì của hai cụ là phù hợp với ý kiến của các đồng thừa kế. Các tài sản trên đất do bà N1 xây dựng đã được thẩm định và định giá.

Quá trình sử dụng đất thì cụ Mai Thị L xác lập Đơn thừa kế vào ngày 30/4/2004 để định đoạt phần tài sản của mình trên đất nên HĐXX áp dụng Bộ Luật dân sự năm 1995 để đánh giá tính hợp pháp. Đơn thừa kế này, cụ L không tự tay viết mà nhờ ông Bùi Văn S viết nên đây là di chúc bằng văn bản có người làm chứng. Căn cứ Điều 659 BLDS năm 1995 trường hợp này phải có ít nhất là hai người làm chứng. Tuy nhiên người làm chứng là ông Bùi Văn S và ông Mai Văn D trình bày không chứng kiến trực tiếp điểm chỉ của cụ L như ý kiến trình bày của hai ông phù hợp với các chứng cứ khác thu thập được nên xác định Đơn thừa kế ngày 30/04/2004 không có giá trị về mặt pháp lý đối với di sản của cụ L để lại do đó lời trình bày của bị đơn không được chấp nhận.

Theo số mục kê, bản đồ 299TTg, diện tích thửa đất 238 là 502m² nhưng theo kết quả đo đạc thực tế là 531,2m², diện tích tăng 29,2m² do sai số trong việc đo đạc lập bản đồ địa chính năm 2003. Ủy ban nhân dân thị trấn xác định diện tích đất tăng 29,2m² thuộc quyền quản lý của UBND và nằm ở phía Tây của thửa đất. Như vậy, xác định toàn bộ diện tích đất ở 502m² tại thửa đất số 238, tờ bản đồ số 03, bản đồ địa chính xã N (nay là thị trấn N) có giá trị là 502m² x 5.200.000đ/m² = 2.610.400.000₫ (hai tỷ sáu trăm mười triệu bốn trăm nghìn đồng) là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu H5 đã hết thời hiệu chia là 251m² và di sản của cụ Mai Thị L còn thời hiệu chia di sản thừa kế là 251m² tương ứng với 1.305.200.000₫.

[2.4] Về phần chia di sản thừa kế: Cấp sơ thẩm xác định phần di sản của cụ H5 tính đến ngày bà Nguyễn Thị H khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện, các đồng thừa kế không thống nhất được đây là tài sản chung chưa chia đề nghị áp dụng thời hiệu nên HĐXX không chia mà theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS, phần di sản này thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Mặc dù, hiện tại không có người thừa kế trực tiếp quản lý di sản của cụ H5 nhưng gia đình ông Q ở cùng các cụ trên thửa đất này từ năm 1985 cho đến năm 1996. Năm 2012, ông Q đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kể từ ngày cấp giấy đến nay, gia đình ông Q đã nộp thuế sản đối với toàn bộ thửa đất của các cụ. Vì vậy, phần di sản của cụ H5 đã hết thời hiệu chia thừa kế nên thuộc quyền sở hữu của ông Q, do ông Q đã chết nên vợ, con ông Q là người được quyền sở hữu. Các đồng thừa kế của ông Q đều thống nhất giao lại phần này cho anh V1 là con ông Q quản lý sử dụng, cấp sơ thẩm xác định và không chia là đúng tuy nhiên về phần quyết định của bản án không có phần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chưa xác định phần ông H5 hết thời hiệu thừa kế là chưa rõ dàng nên HĐXX phúc thẩm cần sửa phần lời tuyên này của sở thẩm.

Về phần di sản của cụ L đến tại phiên toà phúc thẩm không có đương sự nào cung cấp được di chúc hợp pháp của cụ L nên phần di sản của cụ L được chia theo pháp luật có xem xét đến công sức duy trì khối di sản của gia đình ông Q như cấp sơ thẩm là phù hợp.

[2.5] Về phần ngõ đi chung vào nhà bà N: Tại Công văn số 147/CV-UBND ngày 27/6/2024 của UBND thị trấn N, trả lời như sau: Theo hồ sơ 299TTG được công nhận ngày 20/4/1984, thửa đất số 238, tờ bản đồ số 3 (thuộc thửa đất số 197; tờ bản đồ số 3 (BĐ-299TTg xã N cũ), phần ngõ đi theo bản đồ 299TTg ở phía Nam của thửa đất. Theo bản đồ địa chính xã N cũ được công nhận năm 2000, thửa đất 238, tờ bản đồ số 3 (BĐ-ĐC xã Nga Mỹ cũ) phần ngõ đi nằm phía Bắc của thửa đất có diện tích 69,3m², cụ thể: Cạnh phía Bắc giáp thửa đất số 237, có kích thước 26,1m; Cạnh phía Nam giáp thửa đất số 238, có kích thước 26,2m; Cạnh phía Đông giáp thửa đất số 239, có kích thước 3,3m; Cạnh phía Tây giáp đường giao thông có kích thước 2,0m. Phần diện tích ngõ đi vào thửa đất nhà bà Mai Thị N1 do UBND xã quản lý là đất của nhà nước các đương sự tự ý đổi ngõ cho nhau chưa được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do đó cần phải hoàn lại cho nhà nước như bản án sơ thẩm quyết định.

Từ những phân tích đánh giá như trên không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V.

[3]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị V kháng cáo phúc thẩm mặc dù kháng cáo không được chấp nhận, nhưng hai bà là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên HĐXX miễn án phí cho hai bà.

Trong gia đoạn xét xử phúc thẩm anh T1, chị T nộp đơn xin miễn tiền án phí và các tài liệu chứng cứ là thân nhân liệt sỹ. Thấy rằng nội dung này không kháng cáo nhưng phát sinh tình tiết mới phù hợp pháp luật nên HĐXX miễn tiền án phí có giá ngạch cho anh T1, chị T là phù hợp.

[4] Xét kháng nghị của VKS huyện N thấy rằng: Phần đất của cụ H5 hết thời hiệu giao cho anh V1 quản lý sử dụng cấp sơ thẩm buộc anh phải chịu án phí có giá ngạch đối là chưa phù hợp pháp luật nên VKS kháng nghị là có căn cứ được chấp nhận. Đối với kháng nghị về phần án phí của anh C, chị H2, chị H1 phải chịu thấy rằng phần di sản này các đương sự đã giao lại cho anh V1 có quyền quản lý sử dụng hợp pháp nên buộc anh V1 phải chịu án phí đối với những phần này và phần án phí trích công sức duy trì bảo quản di sản thừa kế là phù hợp.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 296, Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 659 BLDS năm 1995; Điều 613; khoản 1 Điều 623; Điều 650; Điều 651; Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 điểm a,b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • -Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thi K1, bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1.
  • -Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị V.
  • -Chấp nhận kháng nghị của VKS nhân dân huyện N về phần tính án phí của anh V1, chị H1, chị H2, anh C.
  • 1.Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Nguyên đơn.
    • -Xác định diện tích đất 251m² của cụ Nguyễn Hữu H5 nằm trong thửa đất số 238, tờ bản đồ số 03, bản đồ địa chính xã N (nay là thị trấn N) đã hết thời hiệu khởi kiện. Giao phần đất này cho anh Nguyễn Hữu V1 quản lý sử dụng.
    • -Xác định di sản của cụ Mai Thị L là L diện tích đất 251m² đất ở tương ứng với giá trị 1.305.200.000₫ nằm trong thửa đất số 238, tờ bản đồ số 03, bản đồ địa chính xã N (nay là thị trấn N).
    • -Trích công sức duy trì bảo quản di sản cho anh Nguyễn Hữu V1 bằng diện tích đất là 35m² tương ứng với giá trị là 182.000.000đ.
  • Di sản của cụ Mai Thị L còn lại là 216m² tương ứng với giá trị là: 1.123.200.000₫
  • 2. Chia di sản của cụ Mai Thị L còn lại là 216m² đất ở tương ứng với giá trị là: 1.123.200.000đ cụ thể như sau:
    • Giao cho bà Nguyễn Thị H diện tích đất ở là 144m² giá trị 748.800.000₫ (bảy trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng) nằm về phía Bắc của thửa đất. Bà H phải thanh toán chênh lệch cho bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Hữu M mỗi người 187.200.000₫ (một trăm tám mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng); thanh toán tiền chênh lệch cho bà Mai Thị K, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hữu T1 mỗi người 62.400.000₫ (sáu mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Kích thước cụ thể như sau: Cạnh phía Đông giáp đất nhà bà Mai Thị N1 6,29m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 6,28m; cạnh phía Nam giáp đất anh Nguyễn Hữu V1 được chia 23,04m; cạnh phía Bắc giáp ngõ đi vào nhà bà Mai Thị N1 22,92m.
    • Tạm giao cho bà Nguyễn Thị H có quyền sử dụng diện tích đất thừa 8,4m² nằm ở phía Tây của thửa đất có kích thước các cạnh như sau: Cạnh phía Đông giáp đất bà H được chia 6,28m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 6,28m; cạnh phía Nam giáp đất tạm giao cho anh Nguyễn Hữu V1 1,33m; cạnh phía Bắc giáp ngõ đi vào nhà bà Mai Thị N1 1,33m. Bà H phải trả lại diện tích đất thừa này khi UBND thị trấn N thu hồi.
    • Chia cho anh Nguyễn Hữu V1 diện tích đất ở là 107m² (Trong đó có 72m² là di sản cụ L chia cho, cụ thể là phần của anh C, chị H2 36m², phần của bà N, chị H1, của anh V1 36m² và 35m² trích công sức) giá trị 556.400.000₫ (năm trăm năm sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) Giao cho anh Nguyễn Hữu V1 358m² đất nằm về phía Nam của thửa đất (trong đó có 107m² đất được chia và 251m² diện tích đất hết thời hiệu chia thừa kế của cụ Nguyễn Hữu H5). Kích thước cụ thể như sau: Cạnh phía Đông giáp đất nhà bà Mai Thị N1 gồm các đường phân khúc 3,94m, 10,63m, 1,79m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 15,61m; cạnh phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị H được chia 23,04m; cạnh phía Bắc giáp nhà ông Nguyễn Hữu N2 21,73m.
    • Tạm giao cho anh Nguyễn Hữu V1 sử dụng diện tích đất thừa 20,8m² nằm ở phía Tây của thửa đất có kích thước các cạnh như sau: Cạnh phía Đông giáp đất anh V1 được chia 15,61m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 15,61m; cạnh phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Hữu N2 1,34m; cạnh phía Bắc giáp đất tạm giao cho bà Nguyễn Thị H 1,33m. Anh V1 phải trả lại diện tích đất thừa này khi UBND thị trấn N thu hồi.

    Bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hữu V1 có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

  • Buộc bà Mai Thị N1 phải phá bỏ tường rào phía Nam và cổng ngõ để trả lại diện tích đất cho anh Nguyễn Hữu V1. Bà Trịnh Thị N có trách nhiệm thanh toán giá trị các tài sản cho bà N1 với số tiền là 11.569.518đ (mười một triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm mười tám đồng). Gia đình bà Mai Thị N1 phải trở lại ngõ đi về phía Bắc có diện tích là 69,3m², kích thước các cạnh cụ thể như sau: Cạnh phía Đông giáp đất gia đình bà N1 3,3m; cạnh phía Tây giáp đường giao thông 2,0m; cạnh phía Nam giáp đất giao cho bà Nguyễn Thị H gồm các đường phân khúc 1,33m, 22.92m, 1,95m; cạnh phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu Á gồm các đường phân khúc 24,15m, 1,95m.

    (Việc chia tài sản có sơ đồ về diện tích và tứ cận kèm theo bản án).

  • - Về án phí: Bà Nguyễn Thị H, bà Trịnh Thị N, ông Nguyễn Hữu M, bà Nguyễn Thị V, bà Mai Thị K, bà Mai Thị N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh T1, chị T được miễn tiền án phí có giá ngạch.

    Anh Nguyễn Hữu V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 17.420.000 (mười bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn) (Trong đó có án phí có giá ngạch đối với 60m² đất và 1.820.000đ án phí duy trì tài sản chịu thay anh C, chị H2).

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  • 3. Về án phí Dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà H, bà V.
  • 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (p9);
  • - TAND, VKSND TX. Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS TX Nghi Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS - PT ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 42/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger