Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/DS-PT

Ngày: 04 - 4 - 2025

V/v: Tranh chấp về quyền sử dụng đất.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Thẩm phán:

  • 1. Bà Phạm Thị Thuý Quỳnh
  • 2. Bà Trần Thị Mỹ Hải

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải; Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2025/TLPT - DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, về việc: Tranh chấp về quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐPT-DS ngày 21/3/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Võ Quang T, sinh năm 1972 và bà Lê Thị T1 (vợ ông T), sinh năm 1971; Đều cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Có mặt tại phiên tòa.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Vũ Danh T2; sinh năm: 1996; Địa chỉ: xóm H, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Ông Lê Văn T3, sinh năm 1968 và bà Lê Thị T4 (vợ ông T3), sinh năm 1969; Đều cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • * Người kháng cáo: Ông Lê Văn T3, sinh năm; Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn trong vụ án.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thống nhất trình bày:

Gia đình ông bà có thửa đất số 50, tờ bản đồ số 37 với tổng diện tích là 4032,5m² tại xóm T, xã N, huyện N, đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00945 ngày 05/3/2014 cho ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1. Trong quá trình sử dụng thì vợ chồng ông không bán cho ai, tuy nhiên đến năm 2023 khi gia đình có nhu cầu tách thửa đất và đo đạc lại thì phát hiện gia đình ông Lê Văn T3 và bà Lê Thị T4 có lấn chiếm sang một phần diện tích khoảng 30m² đất giáp ranh bờ rào hai nhà và ông T3, bà T4 đã xây bờ rào táp lô và một phần nhà tắm lấn sang. Sau khi biết được sự việc thì gia đình ông bà có trao đổi với gia đình ông T3, bà T4 để giải quyết nhưng gia đình ông T3, bà T4 không chấp nhận nên gia đình ông bà đã làm đơn lên xã N để giải quyết nhưng cũng không thành nên gia đình ông bà làm đơn gửi Toà án giải quyết buộc ông T3, bà T4 trả lại đất lấn chiếm cho gia đình ông bà và tháo dỡ các công trình xây trên đất.

- Bị đơn ông T3 và bà T4 thống nhất trình bày: Vào năm 2003, gia đình ông bà có mua của gia đình ông T một phần diện tích đất vườn nhà ông T để làm nhà ở với diện tích là 1168,2m². Quá trình mua bán đất hai bên tự lấy dây đo và cắm mốc với nhau. Đến năm 2014, làm bìa đất thì không biết vì sao trong bìa có lệch diện tích đất so với diện tích trước đây gia đình ông bà mua. Khi gia đình ông T khởi kiện ra UBND xã N thì địa chính xã về đo đạc lại thì thấy mốc trước đây bị lệch sang nhà khác khoảng 1,2m. Nay gia đình ông T yêu cầu ông bà trả lại đất lấn chiếm thì ông bà thống nhất đo lại diện tích đất của hai gia đình, ông bà lấy đúng diện tích đất mà ông bà đã mua của gia đình ông T là 1168,2m², nếu thừa so với diện tích đó thì trả lại cho ông T và yêu cầu đo đúng như mốc trước đây mà ông T đã cắm cho gia đình ông.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 100, 101, 202 và 203 của Luật Đất đai;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1.
  2. Buộc ông Lê Văn T3 và bà Lê Thị T4 có trách nhiệm trả lại cho ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1 diện tích đất 33,1m² đã lấn chiếm của thửa đất số 50, tờ bản đồ số 37 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, trị giá 893.700 đồng (T5 trăm chín mươi ba nghìn, bảy trăm đồng).
  3. Buộc ông Lê Văn T3 và bà Lê Thị T4 có trách nhiệm tháo dỡ và di chuyển toàn bộ các công trình xây dựng (Tường rào xây táp lô, một phần (1,5m²) nhà tắm đã xây dựng trên diện tích đất 33,1m² đã lấn chiếm của thửa đất số 50, tờ bản đồ số 37 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đi nơi khác để trả lại phần đất đã lấn chiếm cho ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/9/2024, bị đơn ông Lê Văn T3 có đơn kháng cáo toàn bộ Bàn án sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn với lý do: Năm 2003, gia đình ông mua đất của ông Võ Quang T một thửa đất nông nghiệp để làm nhà có diện tích 1161,8m² với trị giá 1.500.000 đồng. Đến năm 2014, gia đình ông làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại tờ bản đồ số 37, thửa đất số 55 do UBND huyện N cấp ngày 05/3/2014.

Từ năm 2023, sau khi ông T bán cho ông Nguyễn Văn H một phần đất vườn sát đất nhà ông thì ông T cho rằng gia đình ông bà lấn chiếm đất của ông T (1,3 mét) là không có cơ sở (GCNQSDĐ số 340546 ngày 05/3/2014 của UBND huyện N). Qua cơ quan chức năng về đo, kiểm tra thực tế diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùng khớp với hiện trạng thực tế, còn mốc ranh giới do ông T cắm lúc gia đình ông mua đất của ông T và làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà tuyên án gia đình ông phải trả lại cho ông T 1,3m (đường L) dọc theo mặt đường xóm thì chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất và tài sản của gia đình ông bà.

Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét và làm đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Lê Văn T3 giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa Bàn án dân sự sơ thẩm số

3

07/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T3 đúng thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T3; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T3 không được chấp nhận nên ông Lê Văn T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Lê Văn T3 có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

4

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T3, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Lê Văn T3 không đồng ý với bản án sơ thẩm buộc ông có trách nhiệm trả lại cho ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1 diện tích đất 33,1m² do cho rằng năm 2003 ông đã mua của ông T một thửa đất nông nghiệp có diện tích 1168,2m². Tuy nhiên, cũng tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thừa nhận việc mua bán giữa hai bên tại thời điểm năm 2003 chỉ bằng giấy viết tay, chưa có xác nhận của chính quyền địa phương, trong nội dung của giấy chuyển nhượng năm 2003 cũng chỉ ghi diện tích là 1.168,2m², không ghi rõ chiều dài, chiều rộng, vị trí của thửa đất chuyển nhượng; trong giấy cũng chỉ có chữ ký của ông Võ Quang T mà không có chữ ký của bà Lê Thị T1 là vi phạm quy định tại Điều 167 Luật Đất đai. Khi nhận chuyển nhượng, giữa hai bên chỉ giăng dây tự đo tay với nhau, không yêu cầu chính quyền địa phương đo vẽ cụ thể. Sau khi nhận chuyển nhượng, khoảng năm 2018 hoặc 2019, gia đình ông T3 tiến hành xây dựng bờ rào và nhà tắm nhưng cũng không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về tiến hành đo đạc trước khi tiến hành xây dựng. Trong khi đó, tại phiên toà phúc thẩm, ông T3 cũng thừa nhận đến ngày 26/6/2013, hai bên lập lại hợp đồng chuyển nhượng. Tuy tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Lê Văn T3, bà Lê Thị T4 có trình bày chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 26/6/2013 không phải là của ông T3 và bà T4 nhưng không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký cũng không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh đây không phải là chữ ký của ông T3, bà T4 nên lời trình bày này của bị đơn là không có cơ sở để xem xét. Trong khi đó, tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 26/6/2013 lại có nội dung diện tích chuyển nhượng chỉ là 1161,8m². Trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2013, UBND huyện N đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 340546 ngày 05/3/2014 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 37, diện tích 1161,8m² cho ông Lê Văn T3 và bà Lê Thị T4. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này ông T3, bà T4 cũng không có khiếu nại gì về diện tích được cấp nên nội dung kháng cáo của ông T3 cho rằng căn cứ vào diện tích trong giấy chuyển nhượng năm 2003 để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở.

Đồng thời, quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án cấp sơ thẩm đã xác định: Phần diện tích đất tranh chấp 33,1m² đã được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1 nhưng hiện trạng lại do gia đình ông Lê Văn T3, bà Lê Thị T4 sử dụng, xây dựng bờ rào táp lô có diện tích 17,23m² và 1,5m² diện tích nhà tắm. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T3, bà T4 không đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng không đề nghị xem

5

xét, thẩm định lại nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung trình bày này của bị đơn. Do đó, khi xét xử cấp sơ thẩm căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 340546 do UBND huyện N cấp ngày 05/3/2014 đứng tên ông Lê Văn T3, bà Lê Thị T4; hồ sơ cấp GCNQSD đất số BT 340545 do UBND huyện N cấp ngày 05/3/2014 đứng tên ông Võ Quang T và bà Lê Thị T1; kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 100, 101, 202 và 203 Luật Đất đai nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Từ những phân tích trên, cho thấy bị đơn kháng cáo nhưng không có cơ sở, không đưa ra các căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không chấp nhận các nội dung kháng cáo của bị đơn.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T3 không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T3; giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn ông Lê Văn T3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn T3 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012409 ngày 26/9/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Nghĩa Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 42/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai giữa ông T và ông T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger