|
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG BẢN ÁN SỐ: 42/2024/HS-ST NGÀY: 16/5/2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Sơn và ông Bùi Thế Vịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Ông Bùi Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/HSST ngày 19/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST- HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Anh T, sinh năm 2004. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1978; Con bà: Hà Thị T1, sinh năm 1980; Gia đình có 3 chị em, bản thân là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973 – (đã chết).
Địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 2004 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1997.
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1999.
Cùng địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Đ: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1997 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Hà Thị T1, sinh năm 1980 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyễn Anh T, sinh năm 2004, trú tại trú tại thôn H, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/12/2022.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 28/01/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i biển kiểm soát 98B3 - 769.84, chở Nguyễn Văn P, sinh năm 2004, trú tại thôn P, xã X, huyện L đi từ thôn L, xã X theo đường liên thôn rồi chuyển hướng rẽ phải đi vào đường liên xã T - M, di chuyển theo hướng Dương Đức - UBND xã M. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô chở P di chuyển qua đoạn đường vòng theo chiều hướng từ phải sang trái, thuộc địa phận thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường liên xã T - M, thì quan sát thấy phía trước ngược chiều có xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 233.34 do ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973, trú tại thôn V, xã X, huyện L điều khiển đang di chuyển đến gần, có dấu hiệu đi loạng choạng. Lúc này, T không giảm tốc độ, không tránh về bên phải theo hướng đi của mình mà điều khiển xe mô tô đi sang phần đường trái để tránh xe của ông N. Do điều khiển xe đi sai phần đường và không chấp hành biển báo nên phần mặt ngoài ốp nhựa để chân trước bên phải và mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả xe mô tô 98B3- 769.84 do T điều khiển va chạm với phần đầu ngoài để chân trước bê phải xe mô tô 98B2- 233.34 do ông N điều khiển làm hai xe mô tô bị đổ văng trượt xuống mặt đường, T, P và ông N ngã theo xe. Sau tai nạn, ông N bị thương nặng, đến ngày 29/01/2024 thì chết tại gia đình.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại đường liên xã T - M, trong khu vực ngã ba giao nhau với đường dân sinh Khu dân cư mới xã M, thuộc địa phận thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường liên xã được trải nhựa phẳng, thẳng, rộng 12m; giữa mặt đường có vạch kẻ sơn màu vàng ngắt quãng đều nhau chia mặt đường thành hai phần đường cho phương tiện đi ngược
chiều nhau, mỗi bên rộng 6m. Phía Đông, phía Tây ngã ba trên mặt đường có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, phía Tây hiện trường là đoạn đường cong lồi về phía Nam, dốc xuống theo hướng từ Đông sang T. Phía Tây hiện trường trên hành lang đường phía Nam có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên. Đầu đường nhánh phía Bắc rẽ vào quán K nơi tiếp giáp với đường liên xã rộng 19m. Phía Bắc và phía Nam hiện trường tiếp giáp với Khu dân cư thôn C, xã M. Phía Đông hiện trường tiếp giáp với thôn C, xã M. Phía Tây hiện trường tiếp giáp với cửa hàng X.
Quá trình khám nghiệm bên phải, bên trái hiện trường tính theo chiều đi theo hướng UBND xã M - D; lấy mép đường bên phải làm mép đường chuẩn; lấy tâm đầu đường nhánh vào quán K nằm trên mép đường phải làm điểm mốc.
Trên hiện trường để lại các dấu vết như sau:
Xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 769.84 đổ nghiêng trái trên mặt đường phải, đầu xe quay hướng Đông Nam. Trục bánh trước cách mép đường phải 5m, trục bánh sau cách mép đường phải và cách điểm mốc về phía Bắc 4,8m. Ký hiệu là (1).
Đám vết cày xước nổi màu trắng đục, ngắt quãng không đều trên mặt đường phải, chiều hướng T - Đ, kích thước: dài 29,2m, vị trí rộng nhất của vùng vết 80cm, vết đơn rộng nhất 2cm. Đầu đám vết cách mép đường phải 415cm, cuối đám vết kết thúc tại vị trí đầu cần để chân trước bên trái xe (1) tiếp xúc mặt đường. Ký hiệu là (2).
Đám vết cày xước nổi màu trắng đục, ngắt quãng không đều trên mặt đường phải, chiều hướng Đ - T, kích thước: dài 4,4m, vị trí rộng nhất của đám vết 40cm, vết đơn trong đám vết rộng nhất 4,5cm. Đầu vết cách mép đường phải 450cm và cách đầu vết (2) về phía Đông Bắc 5,3m, cuối vết kết thúc tại đầu để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98B2-233.34 tiếp xúc với mặt đường. Ký hiệu là (3).
Vết chà xát nổi màu đen liên tục trên mặt đường phải kích thước (255x4)cm, chiều hướng Đ - T, đầu vết cách mép đường phải 4,75m, cuối vết kết thúc tại vị trí lốp bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98B2-233.34 tiếp xúc với mặt đường. Ký hiệu là (4).
Xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 233.34 đổ nghiêng trái trên mặt đường phải, đầu xe quay hướng Bắc. Trục bánh trước cách mép đường phải 3,3m, trục bánh sau cách mép đường phải 4,5m. Ký hiệu là (5).
Vết máu đọng đỏ ướt trên mặt đường, kích thước (5x4)cm, tâm vết cách mép đường phải 5,2m và cách đến trục bánh sau xe (5) về hướng Đông Bắc 1,6m. Ký hiệu là (6).
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i màu đen, biển kiểm soát 98B3-769.84:
Má lốp bên phải có dấu vết mài sát, cắt gọt cao su, chiều hướng vào tâm kích thước (3,2x1,5)cm, cách chân van ngược chiều chuyển động tiến 17cm. Mặt trước 1/4 dưới ốp kim loại bên phải giảm sóc bánh trước có dấu vết mài sát kim loại, chùi bụi đất kích thước (8x1,5)cm, tâm vết cách đất 34cm. Mặt trước đầu tay nắm bên phải có vết mài sát cao su chiều hướng từ trước về sau, bám dính chất màu xanh trên diện kích thước (3,5x3,5)cm. Mặt ngoài 1/3 trên cánh yếm bên phải có diện mài sát sơn, nhựa, chiều hướng từ trước về sau trên diện kích thước (14,5x12)cm, tâm vết cách đất 80cm. Mặt dưới ốp nhựa bên phải bàn để chân có diện mài sát sơn nhựa, bề mặt bám dính vật chất màu nâu dạng sơn trên diện kích thước (30x6)cm, cách đất 25cm và vết mài trượt sơn, nhựa chiều hướng từ trước về sau kích thước (17x3)cm, tâm vết cách đất 29cm. Ốp nhựa cốp xe có dấu vết mài trượt chiều hướng từ trước về sau kích thước (14,5x4)cm, tâm vết cách đất 58cm và dấu vết mài trượt, dập vỡ, thủng nhựa trên diện kích thước (30x20)cm, tâm vết cách đất 75cm. Lõm mặt ngoài ống dẫn khí thải kích thước (3x1,5)cm, tâm vết cách đất 24cm. Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ ống xả có dấu vết mài sát chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (50x14)cm, tâm vết cách đất 40cm. Mặt trước cánh yếm bên trái có dấu vết mài sát sơn, nhựa trên diện kích thước (50x18)cm. Cạnh ngoài ốp nhựa bên trái xe có dấu vết mài sát kích thước (10x3)cm. Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ lốc máy bên trái có diện mài sát kích thuớc (10x3,5)cm. Cạnh ngoài bên trái giá kim loại phía sau yên xe có dấu vết mài sát kim loại kích thước (16x2)cm. Mặt trên đầu trước của ống xả có dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bề mặt bám dính vật chất màu đen, chiều hướng từ trước ra sau trên diện kích thước (11x3,3)cm. Mặt dưới, đầu ngoài để chân sau bên phải có dấu vết hằn lõm, trượt xước kim loại hướng từ trước ra sau, kích thước (0,5x0,3)cm.
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream II màu nâu, biển kiểm soát 98B2 - 233.34:
Góc trên bên phải cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết mài sát sơn, nhựa trên diện kích thước (24x5)cm. Ốp kim loại giảm sóc bên phải bánh trước có dấu vết cắt gọt kim loại, kích thước (1,5x0,2)cm, tâm vết cách đất 35cm, chiều hướng từ trước về sau. Mặt trước ốp kim loại giảm sóc bên phải bánh trước có diện mài trượt kim loại chiều hướng từ trước về sau, kích thước (6x0,8)cm, tâm vết cách đất 44,5cm. Cạnh trên ốp nhựa càng bên phải bánh trước có diện mài sát nhựa chiều hướng từ trước về sau, kích thước (9,5x4)cm, tâm vết cách đất 57,5cm. Mặt trước cánh yếm bên phải có diện mài sát nhựa chiều hướng từ trước về sau, kích thước (37x5)cm, tâm vết cách đất 50cm. Ốp nhựa phía trên đèn tín hiệu phía trước bên phải có diện mài sát sơn, nhựa, kích thước (8x2,5)cm, gãy khuyết một phần đầu ốp nhựa. Mặt trước đầu tay nắm bên phải có diện mài sát cao su, kích thước (1,3x0,5)cm; mặt sau tay nắm có diện mài sát cao su bám dính vật chất màu xám, kích thước (4x0,2)cm, cách đất 105cm. Cạnh ốc đầu lốc máy bên phải có diện mài sát kim loại, kích thước (1x0,3)cm, tâm vết cách đất 27cm. Phanh chân bị gãy gập về phía sau, đầu bàn đạp phanh có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu đen, kích thước (2,2x0,7)cm. Mặt ngoài bên phải lốc máy có diện mài sát kim loại bám dính vật chất màu đen trên diện kích thước (11,5x11,5)cm. Để chân trước bên phải chùn cong về phía sau; mặt trước đầu để chân có diện mài sát cao su trên diện kích thước (8,5x3)cm, tâm vết cách đất 28,5cm. Mặt trước đầu tay nắm bên trái có diện mài sát cao su dạng sợi kích thước (2,2x2)cm. Ốp nhựa phía trên bên trái, cụm đèn tín hiệu phía trước bên trái có dấu vết mài sát nhựa kích thước (5x2,5)cm. Mặt trước gáo gương trái có diện mài sát nhựa kích thước (12x7)cm. Để chân trước bên trái có dấu vết mài sát, rách thủng cao su, lộ lõi kim loại phía trong, đầu thanh kim loại có dấu vết mài sát kích thước (1x0,2)cm. Cạnh ngoài bên trái giá kim loại phía dưới yên xe có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (10x2,5)cm. Tại móc treo đồ phía trước bên phải có treo 01 mũ bảo hiểm màu đen, đỉnh mũ hướng ra ngoài, bề mặt đỉnh mũ có dấu vết mài sát nhựa, kích thước (14x7)cm, tâm vết cách đất 60cm. Gãy khuyết cung sau chắn bùn bánh trước, phần mảnh nhựa thu được xác định là cung sau chắn bùn bánh trước; tại cạnh bên phải mặt sau có dấu vết mài sát sơn nhựa chiều hướng từ trước về sau trên diện kích thước (13,5x7)cm. Mặt ngoài viền cao su bên phải yên xe có dấu vết mài trượt sạch bụi đất hướng từ trước ra sau trên diện kích thước (11x0,3)cm.
Tại kết luận giám định số 446/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Dấu vết mài trượt cao su, chùn cong kim loại hướng từ trước ra sau ở đầu ngoài để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 233.34 (từ ảnh 33 đến ảnh 37 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài ốp nhựa để chân trước bên phải và mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 769.84.
- Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt trước, đầu ngoài bàn đạp chân phanh của xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 233.34 phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt trước để chân sau bên phải và đầu ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 769.84.
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 233.34 với xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 769.84 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2 và số 3, thuộc phần đường bên phải theo hướng UBND xã M đi xã D khi chia mặt đường thành hai phần bằng nhau.
Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Tại kết luận giám định tử thi số 436/KLGĐTT/KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn N do chấn thương sọ não: Đụng dập, tụ máu nhu mô, tụ máu dưới màng cứng cấp bán cầu phải
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể số 2092/24/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn P là 22%.
Tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn số 02978 hồi 22 giờ 43 phút ngày 28/01/2024 xác định nồng độ cồn trong khí thở của ông N là 0.946 mg/L. Tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn số 02977 hồi 21 giờ 40 phút ngày 28/01/2024 xác định T không có nồng độ cồn trong cơ thể. Kết quả kiểm tra mẫu nước bọt đều xác định ông N và T đều âm tính với các chất ma túy.
- Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 17/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Nguyễn Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và ân hận về hành vi của mình.
Đại diện cho gia đình bị hại anh Nguyễn Ngọc A đã nhận được số tiền bồi thường của bị cáo là 50.000.000 đồng không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường vì giữa anh và bị cáo là bạn bè thân thiết và anh đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo, bị hại, của người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện cho gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 292 bộ luật Tố tụng Hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Anh T khai nhận:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 28/01/2024, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường liên xã T - M với đường dân sinh khu dân cư mới xã M, thuộc địa phận thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đoạn đường có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên, Nguyễn Anh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 769.84 theo hướng Dương Đức- UBND xã M, đèo sau là Nguyễn Văn P, khi T điều khiển xe chuyển hướng từ phải sang trái nhưng không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không đi đúng phần đường quy định, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, vi phạm Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ; Khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải khiến phần để chân trước bên phải và mặt ngoài ốp ống xả xe mô tô của T va chạm với phần để chân trước bên phải với xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 233.34 do ông Nguyễn Văn N điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả: Ông N bị thương nặng, đến ngày 29/01/2024 thì chết tại gia đình; anh Nguyễn Văn P bị thương với tỷ lệ thương tích 22%.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyễn Anh T tham gia giao thông điều khiển xe chuyển hướng từ phải sang trái nhưng không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không đi đúng phần đường quy định, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn; Vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ; Khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G;
Bị hại ông Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô cũng có một phần lỗi: khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không làm chủ tay lái, lái xe loạng choạng dẫn đến bị cáo khó phán đoán được hướng đường đi của ông N, mặt khác khi tham gia giao thông ông N có sử dụng nồng độ cồn, cụ thể tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn số 02978 hồi 22 giờ 43 phút ngày 28/01/2024 của Công an
huyện L xác định nồng độ cồn trong khí thở của ông N là 0.946 mg/L cũng là một phần nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông.
Khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ, quy định:
“Điều 9. Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, quy định:
“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
- Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
- Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế; ......
Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Anh T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và biện pháp xử lý:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Anh T là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại mà còn xâm phạm đến lĩnh vực quản lý về an toàn công cộng và trật tự công cộng của Nhà nước, bị cáo T điều khiển xe ô tô khi tham gia giao thông đi không đúng phần đường của mình; tránh xe ngược chiều không đảm bảo an toàn, gây nên hậu quả ông Nguyễn Văn N đã chết. Vì vậy cần lên một hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3.1] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, sau khi tai nạn xảy ra, đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, được đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa người bị hại là anh Nguyễn Văn P đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, do đó cần áp
dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
[3.2] Về áp dụng hình phạt: Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi đánh giá nhân thân của bị cáo thì thấy Thân Văn T2 phạm tội do lỗi vô ý do quá tự tin, bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS, ý kiến của đại diện VKS huyện L tại phiên tòa cũng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, do vậy cần chấp nhận cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, vừa thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN. Áp dụng Điều 65 BLHS.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 02/2/2024, gia đình Nguyễn Anh T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn N số tiền 50.000.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1997, trú tại Thôn V, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường thêm gì khác. Tại phiên tòa người bị hại anh Nguyễn Văn P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, Do vậy HĐXX không xem xét.
[5] Việc xử lý vật chứng: Ngày 16/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại xe mô tô 98B3- 769.84 cùng giấy tờ xe cho chủ sở hữu bà Hà Thị T1, sinh năm 1980; trả xe mô tô 98B2- 233.34 cho anh Ngọc A là người đại diện gia đình bị hại.
HĐXX xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra đã được xử lý trong giai đoạn điều tra truy tố là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 331; Điều 333 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Xử phạt Nguyễn Anh T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
2. Án phí và quyền kháng cáo: Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của gia đình bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Tuấn - VPGT
