Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HSST

Ngày: 25/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng; bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/HSST ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXHSST – HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số: 16/2024/QĐHPT-HS ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 23 tháng 08 năm 1997, tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Lê Văn Q, sinh năm 1961 và bà: Trần Thị H, sinh năm 1950; anh em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ: Nguyễn Thị Kim D; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình từ ngày 29/02/2024 cho đến nay; Có mặt tại phiên toà

Các bị hại:

  1. Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
  2. Chị Dương Thị Hoài D1; sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị T2; sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
  4. Cháu Trần Đức L; sinh năm 2013; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  5. Chị Võ Thị Như Q1; sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
  6. Chị Trần Thị M; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
  7. Chị Nguyễn Thị H1; sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
  8. Chị Nguyễn Thị N; sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  9. Chị Nguyễn Thị Thu H2; sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • Chị Dương Thị Hoài D1; sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (mẹ của bị hại Trần Dương Hà A, đã chết); Nghề nghiệp: Làm ruộng; Có mặt.
  • Chị Nguyễn Thị T2; sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; (đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Đức L); Có mặt

Bị đơn dân sự:

Ông Trần Quang T3; sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn H3; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đức T có giấy phép lái xe số [...], hạng C, do sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/6/2021 (Có giá trị đến ngày 10/6/2026) hợp đồng lái xe cho doanh nghiệp tư nhân T5, có trụ sở ở thôn G, xã H, huyện B tỉnh Quảng Bình, do anh Trần Quang T3 làm đại diện, chở hàng từ tỉnh Quảng Bình đi ra Hà Nội và ngược lại. Sáng ngày 17/12/2023 xe ô tô tải biển kiểm soát 73C-101.25 xuất phát từ thành phố Hà Nội để về tỉnh Quảng Bình, trên đường đi do Lê Đức TNguyễn Văn H3, sinh năm 1991, trú tại xã H, huyện B tỉnh Quảng Bình thay nhau điều khiển và ngồi trên xe ô tô còn có Trần Thị N1, sinh năm 1972, Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1981, đều trú tại xã H, huyện B tỉnh Quảng Bình, lưu thông trên đường Tỉnh lộ 547, theo hướng từ Bắc vào N. Đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, xe ô tô do Lê Đức T điều khiển đi đến Km 95+400 đường T, thuộc địa phận thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Lúc này phía bên trái qua bên phải (Tính theo chiều xe ô tô T chạy) trên đường liên xã hướng từ xã K đi lên xã K (Đường không ưu tiên) theo hướng từ Phía bên trái qua bên phải (Tính theo chiều xe ô tô T chạy) có xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35 do Nguyễn Thị T4, sinh năm 1979, trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển, trên xe chở Dương Thị Hoài D1, sinh năm 1995 và con gái là Trần Dương Hà A, sinh năm 2021 ngồi ở ghế phụ phía trước, còn lại Võ Thị Như Q1, sinh năm 1999, Trần Thị M, sinh năm 1993, Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988, Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994 cùng các cháu Bùi Ngọc Khánh V, sinh năm 2019, Bùi Ngọc Minh C, sinh năm 2022, Trần Đức L, sinh năm 2013, Trần Hải N2, sinh năm 2015, Lê Ngọc An N3, sinh năm 2020, Trương Minh Khánh N4, sinh năm 2018, đều trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ngồi ở hai dãy ghế phía sau, đi qua ngã tư, đến gần hết làn đường xe cơ giới bên phải của đường Tỉnh lộ 547 theo hướng xe ô tô 73C-101.25 đang chạy, để đi lên xã K. Do Lê Đức T không giảm tốc độ nên phía trước phần đầu xe ô tô 73C-101.25 do T điều khiển đã đâm ngang vào phía bên phải sườn xe ô tô 38A-532.35 (Ngay vị trí cánh cửa xe phía trước bên phụ) do Nguyễn Thị T4 điều khiển, làm xe ô tô và người ngồi trên xe ô tô trượt trên mặt đường, sau đó lao xuống mép đường bên trái tính theo chiều xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 chạy. Điểm va chạm giữa hai xe xẩy ra ở trên làn đường xe cơ giới của xe ô tô 73C-101.25 đang chạy. Hậu quả vụ tai nạn làm cháu Trần Dương Hà A, sinh năm 2021 bị tử vong sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, Dương Thị Hoài D1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 29 %, Nguyễn Thị T2 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 04 %, Trần Thị M bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 09%, Võ Thị Như Q1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 6%, Hoàng Thị T1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 36 %, Nguyễn Thị Thu H2 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 02 %, Trần Thị N1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 10% và cháu Trần Đức L bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 19%. Xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35 bị hư hỏng, thiệt hại 614.700.000 đồng, xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 bị hư hỏng, thiệt hại 98.000.000 đồng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Vụ tai nạn xảy ra ở ngã tư giao nhau giữa đường T và đường liên xã UBND Kỳ Phú đi xã K giữa xe ô tô 73C-101.25 và xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35. Mặt đường Tỉnh lộ 547 được rải nhựa bằng phẳng, rộng 7,0m, được kẻ vạch phân chia thành hai phần đường, mỗi phần rộng 3,50m, vạch sơn kẻ giữa tâm đường màu trắng đứt quảng. Mặt đường liên xã UBND xã K đi xã K, huyện K được rải nhựa bằng phẳng rộng 5,0m hai bên lề đường bằng đất. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 73C-101.25 chạy có 01 biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và trên mặt đường có hai cụm gờ giảm tốc độ. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 38A-532.35 chạy có 01 biển báo giao nhau với đường ưu tiên và trên mặt đường có ba cụm gờ giảm tốc độ.

Đánh số thứ tự vị trí các dấu vết: (1) vết chà lốp của xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 để lại trên mặt đường; (02) mãnh vỡ; (03) vết cày đất; (04) vết cày đất; (05) xe ô tô 73C-101.25 đậu; (06) mãnh vỡ; (07) xe ô tô 38A-532.35 đậu.

Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 95+400 bên phải đường Tỉnh lộ 547 làm mốc và mép đường nhựa Tỉnh lộ 547 bên phải làm chuẩn (Tính theo hướng từ Bắc vào N), các dấu vết để lại hiện trường như sau: Mô tả dấu vết hiện trường: Cách tâm ngã tư về hướng B 71m là đầu cụm gờ giảm tốc độ thứ nhất trên mặt đường tỉnh lộ 547, cách cụm gờ giảm tốc độ thứ nhất về hướng Nam 35m là cụm gờ giảm tốc độ thứ hai và cụm gờ giảm tốc độ thứ hai cách tâm ngã tư 36m. Cách cụm gờ giảm tốc độ thứ hai về hướng Nam 36m là điểm đầu vết chà lốp (01), đầu vết chà lốp vào mép đường nhựa bên phải 0,1m kéo dài 2,4m, điểm cuối vào mép đường nhựa bên phải 1,25m. Cách điểm cuối vết chà lốp (01) về hướng Nam 3,2m là mãnh vỡ (02) có kích thước 1,1mx0,6m, tâm mãnh vỡ vào mép đường nhựa bên phải 6,5m. Cách tâm mãnh vỡ (02) về hường Nam 2,5m là điểm đầu vết cày đất (03), đầu vết cày đất vào mép đường nhựa bên phải 4,02m kéo dài 5,7m, điểm cuối vào mép đường nhựa bên phải 7,6m. Cách điểm đầu vết cày đất (03) vào hướng Nam 2,46m là điểm đầu vết cày đất (04), đầu vết cày đất vào mép đường nhựa bên phải 2,03m, kéo dài 6,9m, cuối vết cày đất vào mép đường nhựa bên phải 6,5m. Cách cuối vết cày đất (04) về hướng Nam 1,3m là trục bánh trước xe ô tô 73C-101.25 (05) liên quan đến tai nạn, bị lật ngữa nằm dưới ruộng lúa, đầu quay ra B, đuôi quay vào N, trục bánh trước bên trái vào mép đường nhựa bên phải 9,5m, trục bánh sau bên trái vào mép đường nhựa bên phải 7,9m. cách trục bánh sau bên trái xe ô tô (05) về hướng Nam 18,2m là mãnh vỡ (06) có kích thước 0,5mx0,25m, tâm mãnh vỡ vào mép đường nhựa bên phải 1,9m. Cách tâm mãnh vỡ (06) về hướng Nam 13,1m là tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô 38A-532.35 (07) liên quan đến tai nạn đậu dưới ruộng lúa phía bên trái đường tỉnh lộ 547, đầu xe hướng vào N, đuôi xe hướng ra Bắc, tâm trục bánh sau bên phải sang mép đường nhựa bên phải 13,3m, tâm trục bánh trước bên phải sang mép đường nhựa bên phải 15,74m. Đường liên xã chiều xe ô tô 38A-532.35 chạy có ba cụm gờ giảm tốc độ. Cụm thừa nhất cách tâm ngã tư 65m, cụm thứ hai cách tâm ngã tư 46m và cụm thứa ba cách tâm ngã tư 33m.

Kết luận điểm va chạm:

Tại bản kết luận giám định số 78/KL-KTHS, ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 và xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35 va chạm với nhau vuông góc. Ba đờ xốc trước và biển kiểm soát 73C-101.25 va chạm với ốp sườn và cửa trước bên phải xe ô tô 38A-532.35.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định Pháp Y số 06/KL-KTHS ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Cháu Trần Dương Hà A chết do chấn thương sọ não.

Kết quả giám định tổn hại sức khỏe:

  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 112/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 18/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Dương Thị Hoài D1 là 29%.
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 114/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 16/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Hoàng Thị T1 là 36%.
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 111/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 08/7/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị T2 là 04%.
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 110/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 16/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Trần Thị M là 09% (Chín phần trăm).
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 204/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 10/7/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Võ Thị Như Q1 là 06%.
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 95/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 05/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị Thu H2 là 02%.
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 94/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 05/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Trần Thị N1 là 10%.
  • Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 113/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 16/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của cháu Trần Đức L là 19%.

Tổng tỷ lệ tổn thường cơ thể của chị Dương Thị Hoài D1; chị Hoàng Thị T1; chị Nguyễn Thị T2; chị Trần Thị M; chị Võ Thị Như Q1; chị Nguyễn Thị Thu H2; chị Trần Thị N1 và cháu Trần Đức L là: 115%.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

+ Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:

Kính chắn gió phía trước bị vỡ hoàn toàn; góc bên trái đầu xe bám dính nhiều bùn, đất, cỏ; ba đờ xốc phía trước bị gãy vỡ, trượt xước, bám dính một số kim loại màu đỏ, kích thước 150cmx30cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách so với mặt đất 76cm; biển kiểm soát phía trước bị móp méo, gãy vỡ phần nhựa, bám dính chất màu đỏ, kích thước 33cmx17cm, tâm cao cách mặt đất 70cm; mặt nạ phía trước đầu xe bị bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện; cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái bị gãy vỡ, kích thước 50cmx27cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cao cách mặt đất 85cm; cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái bị gãy vỡ kích thước 34cmx23cm, tâm cáo cách mặt đất 94cm; cần gạt mưa bị gãy rời bung khỏi phương tiện; bầu hơi bị móp méo, thủng kích thước 30cmx15cm; góc bên trái mặt nạ phía trước bị móp méo, trượt xước, bong tróc sơn, bám dính chất màu đỏ dạng sơn, kích thước 110cmx50cm, tâm cao cách mặt đất 130cm; cánh cửa phía trước bên trái bị cong gập, móp méo, kích thước 114cmx133cm, phần kính của cánh cửa bị gãy vỡ hoàn toàn; thanh chắn gầm phía bên trái bị gãy, bung rời khỏi vị trí ban đầu; ba bản lề cánh cửa phía sau bên trái bị gãy; chắn bùn bánh sau bên phải bị gãy vỡ, kích thước 10cmx08cm; ốp thùng xe tại vị trí phía bên bánh sau bị bung rời, kích thước 60cmx10cm; góc phía trước bên trái thùng xe bị gãy vỡ ốp nhựa, kích thước 30cmx70cm.

+ Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:

Ba đờ xốc phía trước bị gãy, bung rời các chốt cố định; góc bên phải ba đờ xốc có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, kích thước 50cmx45cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 60cm, chiều hướng từ phải sang trái; cụm đèn chiếu sáng hai bên bị gãy bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện; lưới tản nhiệt, biển kiểm soát phía trước bung rời khỏi phương tiện; góc bên phải nắp ca pô bị móp méo, xô lệch, trượt xước kích thước 90cmx70cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cao cách mặt đất 100cm; kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ kích thước 120cmx90cm; cầu bánh trước bị gãy vỡ, hai bánh xe phía trước không còn hơi; ốp sườn thân xe phía bên phải bị móp méo, trượt xước, cong gập, kích thước 95cmx70cm, tâm dấu vết cách mặt đất 70cm; phần kính phía trước bên phải bị vỡ hoàn toàn; cánh cửa phía sau bên phải bị móp méo, trượt xước, thủng kim loại, kích thước 95cmx85xm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cách mặt đất 70cm, phần kính của này bị vỡ hoàn toàn; góc bên phải trần xe bị cong vênh, móp méo, xô lệch từ phải sang trái, kích thước 160cmx50cm; ốp sườn thân xe bên phải, tại vị trí trên bánh xe bị cong vênh, móp méo, trượt xước, kích thước 80cmx20cm, tâm dấu vết cách mặt đất 100cm; gương chiếu hậu bên phải bị gãy vỡ hoàn toàn, gương chiếu hậu bên trái bung rời phần nhựa; toàn bộ túi khí bị bung; thân xe bên trái bám dính nhiều bùn, đất, hộp số bảng điều khiển bị gãy vỡ, bung rời; phương tiện bị hư hỏng, không đủ điều kiện để kiểm tra an toàn kỷ thuật phương tiện.

Kết quả định giá thiệt hại tài sản:

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG, ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35 bị thiệt hại: 614.700.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG, ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 bị thiệt hại: 98.000.000 đồng.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:

Tại phiếu kiểm tra kết quả nồng độ cồn vào lúc 18 giờ 10 phút ngày 17/12/2023 của Lê Đức T là 0.000mg/l

Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện đa khoa thị xã K ngày vào lúc 21 giờ 06 phút ngày 17/12/2023, xác định Lê Đức T, âm tính với các chất ma túy.

Tại phiếu kiểm tra kết quả nồng độ cồn vào lúc 18 giờ 22 phút ngày 17/12/2023 của Hoàng Thị T1 là 0.000mg/l

Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện đa khoa thị xã K ngày vào lúc 21 giờ 18 phút ngày 17/12/2023, xác định Hoàng Thị T1, âm tính với các chất ma túy.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ xử lý vật chứng cụ thể:

  • 01 xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73008359; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 01238438; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm ô tô số 0001297695 thu của Lê Đức T, nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Trần Quang T3.
  • 01 xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 38000985; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 6223983; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm ô tô số 150873 thu của Hoàng Thị T1, nay đã trả lại cho chủ sở hữu chị Hoàng Thị T1.
  • 01 Giấy phép lái xe hạng C, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/6/2021 mang tên Lê Đức T và 01 Giấy phép lái xe hạng B1, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/6/2023 mang tên Hoàng Thị T1, được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Lê Đức T đã cùng đại diện hợp pháp bị hại bà Dương Thị Hoài D1 đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại tổng số tiền 180.000.000 đồng. Nay người đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Chị Hoàng Thị T1, bị thương phải đi bệnh viện điều trị, cũng như xe ô tô 38A-532.35 bị hư hỏng thiệt hại 614.700.000 đồng, nay chị T1 có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường mà tự nguyện hổ trợ cho gia đình bị hại cháu Trần Dương Hà A 130.000.000 đồng.

Đối với chủ phương tiện xe ô tô 73C-101.25 bị hư hỏng thiệt hại 98.000.000 đồng anh Trần Quang T3 không yêu cầu bị cáo Lê Đức T bồi thường.

Các bị hại anh Nguyễn Văn H3, chị Trần Thị N1, chị Nguyễn Thị Thu H2, chị Dương Thị Hoài D1, chị Nguyễn Thị T2, chị Trần Thị M, chị Võ Thị Như Q1, chị Nguyễn Thị Thu H2, chị Trần Thị N1, cháu Trần Đức L người đại diện cho bị hại, không yêu cầu bị can phải bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với Lê Đức T

Tại bản Cáo trạng số 42/CT- VKSKA ngày 26 tháng 08 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Đức T mức án 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  • Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/6/2021 mang tên Lê Đức T; trả lại cho chị Hoàng Thị T1 01 Giấy phép lái xe hạng B1, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/6/2023 mang tên Hoàng Thị T1, được chuyển theo hồ sơ vụ án
  • Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Lê Đức T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại hồ sơ vụ án; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Lê Đức T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 73C-101.25, đi trên đường T hướng từ Bắc vào N, do không giảm tốc độ khi có biển cảnh báo nguy hiểm nên phía trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 do đó Lê Đức T điều khiển, đã đâm ngang vào phía bên phải sườn xe ô tô 38A-532.35 do chị Hoàng Thị T1 điều khiển, đang đi trên đường liên xã hướng từ K đi xã K, huyện K khi đã qua tâm ngã tư giao nhau giữa hai đường. Hậu quả cháu Trần Dương Hà A bị tử vong sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, chị Dương Thị Hoài D1, chị N5, chị Trần Thị M, chị Võ Thị Như Q1, chị Hoàng Thị T1, chị Nguyễn Thị Thu H2, chị Trần Thị N1 và cháu Trần Đức L bị chấn thương với tổng tỷ lệ tổn thương cộng dồn là 115%; xe ô tô biển kiểm soát 38A-532.35 bị hư hỏng, thiệt hại 614.700.000 đồng, xe ô tô biển kiểm soát 73C-101.25 bị hư hỏng, thiệt hại 98.000.000 đồng. Hành vi của Lê Đức T đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019, gây hậu quả làm chết 1 người, 8 người bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể cộng dồn 115%. Do đó có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Lê Đức T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.

[3] Bị cáo gây thiệt hại làm chết 1 người, 8 người bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể cộng dồn 115%, thiệt hại về tài sản 712.000.000 triệu đồng nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng: “gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Đức T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhân của chính quyền địa phương; Bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Trong vụ án này lỗi thuộc trực tiếp thuộc về Lê Đức T không giảm tốc độ khi có biển cảnh báo nguy hiểm dẫn đến gây ra vụ tai nạn. Phía bị hại chị Hoàng Thị T1 cũng có lỗi một phần khi điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát để nhường đường cho xe ô tô đang đi trên đường ưu tiên đi qua đường giao nhau, chở quá số người quy định.

[7] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội, tại phiên toà bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.

[8] Về dân sự: Bị cáo, Bị hại, đại diện gia đình hợp pháp bị hại không yêu cầu gì them nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[9] Vật chứng vụ án:

- Các phương tiện giao thông đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/6/2021 mang tên Lê Đức T; 01 Giấy phép lái xe hạng B1, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/6/2023 mang tên Hoàng Thị T1 đã chuyển theo hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo và chị Hoàng Thị T1 là phù hợp.

[10] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Vi phạm vi định về tham gia giao thông đường bộ”
  2. 2. Về hình phạt chính: Xử phạt Lê Đức T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. 3. Về vật chứng vụ án: Trả lại cho Lê Đức T 01 Giấy phép lái xe hạng C, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 10/6/2021 mang tên Lê Đức T; trả lại cho chị Hoàng Thị T1 01 Giấy phép lái xe hạng B1, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/6/2023 mang tên Hoàng Thị T1. (Các Giấy phép nói trên kèm theo hồ sơ vụ án).
  4. 4. Về án phí: Xử buộc Lê Đức T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

- Bị cáo;

- VKSND huyện Kỳ Anh;

- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;

- Công an Hà Tĩnh (PV 06)

- Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;

- Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;

- Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);

- Sở Tư pháp Hà Tĩnh;

- Bị cáo; Người có QLNVLQ

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu án văn, HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

HỘI THẨM NHÂN DÂN

LÊ VĂN NHƯNG

TRẦN THỊ TOÀN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 42/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger