Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 18/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Nga
  2. Ông Thái Tân Sĩ

Thư ký phiên toà: Bà Trần Vũ Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Trần Quang Đ, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 03/11/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Ngô Thị T; có vợ và 01 con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2023 đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).
  2. Họ tên: Nguyễn Văn T1, tên gọi khác: Lép; sinh ngày: 25/6/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Trần Thị Cẩm N; có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2023 đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1980
  2. Địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2

  1. Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1994
  2. Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  3. Ông Phạm Minh T3, sinh năm 1983
  4. Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  5. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1986
  6. Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/4/2023, Nguyễn Văn T1 đến quán cà phê của Trần Quang Đ tại tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để uống nước và phụ chở nước đá cho Đ. Do biết Đ có tổ chức đá gà qua mạng nên T1 đề nghị Trần Quang Đ mở trang mạng đá gà để T1 tham gia cá cược. Đ dùng điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh mở trang “swv388.com” và đưa điện thoại cho T1 để tham gia cá cược bằng hình thức đá gà thắng, thua bằng tiền qua mạng. Khi Đ giao trang mạng cho T1 thì tài khoản trên trang có tổng cộng 1.265 điểm tương đương với số tiền Việt Nam là 63.250.000 đồng (01 điểm là 50.000 đồng), Đ và T1 thỏa thuận đến 16 giờ cùng ngày sẽ kiểm tra lại số tiền trên trang mạng để tính tiền thắng, thua với nhau; để đảm bảo cho Đ có đủ tiền trả nếu người chơi thắng cược nên Đ và T1 đã thỏa thuận tổng số điểm cá cược mỗi trận dưới 200 điểm (tương đương dưới 10.000.000 đồng), nếu T1 thắng số tiền khoảng 10.000.000 đồng thì phải báo cho Đ biết để thanh toán và không chơi nữa. Khi T1 đang tham gia cá cược thì Huỳnh Văn C1, Nguyễn Hoàng T2 và Phạm Minh T3 cũng đến quán nước của Đ và sau đó C1, T3, Hoàng T2 nhờ T2 bấm chọn giùm để họ tham gia cá cược. Khi tham gia cá cược thì những người chơi tự mình lựa chọn bên gà và số điểm cá cược, không bàn bạc, thống nhất với nhau để cùng tham gia cá cược. Trong quá trình Huỳnh Văn C1, Nguyễn Hoàng T2 và Phạm Minh T3 tham gia cá cược thì Nguyễn Văn T1 đã ứng tiền ra trước để tính tiền thắng, thua trong từng trận cho những người chơi, cụ thể: Phạm Minh T3 tham gia cá cược hai trận đá gà với số điểm cược là 2 điểm và 4 điểm tương đương với số tiền 100.000 đồng và 200.000 đồng, nhưng bị thua nên đã ra nghỉ; Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn C1 và Nguyễn Hoàng T2 đã tham gia cá cược trong 47 trận với tổng số tiền cá cược trong từng trận dưới 5.000.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn C1 và Nguyễn Hoàng T2 đang tham gia cá cược trong một trận gà với tổng số điểm là 138 điểm tương đương số tiền 6.900.000 đồng (trong đó, Nguyễn Văn T1 cược 102 điểm tương đương số tiền 5.100.000 đồng, C1 cược 30 điểm tương đương số tiền 1.500.000 đồng và Nguyễn Hoàng T2 cược 6 điểm tương đương số tiền 300.000 đồng) thì bị Công an huyện C kiểm tra phát hiện. Tại thời điểm kiểm tra và thu giữ điện thoại thì số điểm trong tài khoản trên trang mạng cá cược còn lại 1101,66 điểm, như vậy Nguyễn Văn T1 và các đối tượng tham gia cá cược trong ngày 04/4/2023 đã thua với số điểm là 163,34 điểm tương đương số tiền 8.167.000 đồng.

3

Ngoài ra, Trần Quang Đ còn khai đã nhận trang mạng trên từ Nguyễn Văn L (sinh năm: 1986, hộ khẩu thường trú: tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) cách ngày bị bắt khoảng 02 tuần, khi L giao thì tài khoản trên trang mạng có 1000 điểm tương đương số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi Đ nhận trang mạng từ L thì đưa cho những người khác tham gia cá cược bằng hình thức đá gà qua mạng thắng, thua bằng tiền, rồi tính tiền thắng, thua với Đ và sau đó Đ sẽ tính lại với L để hưởng lợi. Đ đã tính tiền thắng, thua với L hai lần và được L cho số tiền 15.000.000 đồng (lần 1: 7.500.000 đồng và lần 2: 8.000.000 đồng). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tiến hành đối chất, Nguyễn Văn L không thừa nhận hành vi giao trang mạng cho Đ và cũng không có chứng cứ khác chứng minh việc L giao trang mạng cho Đ.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSHCG ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang Đ đã trình bày lại toàn bộ nội dung vụ án và thừa nhận hành vi sử dụng mạng internet tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền thông qua trang mạng; bị cáo Nguyễn Văn T1 thừa nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền qua trang mạng do Trần Quang Đ tổ chức xảy ra vào ngày 04/4/2024 tại quán cà phê thuộc tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời, các bị cáo cũng đã nhìn nhận trách nhiệm của mình và tỏ thái độ ăn năn hối hận, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến đánh giá nội dung vụ án, xác định hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung bản cáo trạng. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát cũng đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Quang Đ mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh và số tiền 23.667.000đ (hai mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

[1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã giao nộp chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục quy định. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thể hiện nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định, vào ngày 04/4/2024, tại quán cà phê thuộc tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Quang Đ đã thực hiện hành vi sử dụng mạng internet tổ chức cho Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn C1, Nguyễn Hoàng T2 và Phạm Minh T3 đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền qua trang mạng “swv388.com”. Cụ thể, Phạm Minh T3 tham gia cá cược hai trận đá gà với số điểm cược là 2 điểm và 4 điểm tương đương với số tiền 100.000 đồng và 200.000 đồng; Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn C1 và Nguyễn Hoàng T2 đã tham gia cá cược 47 trận với tổng số tiền cá cược trong từng trận dưới 5.000.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn C1 và Nguyễn Hoàng T2 đang tham gia cá cược trong một trận gà với tổng số điểm là 138 điểm tương đương số tiền 6.900.000 đồng (trong đó, Nguyễn Văn T1 cược 102 điểm tương đương số tiền 5.100.000 đồng, C1 cược 30 điểm tương đương số tiền 1.500.000 đồng và Nguyễn Hoàng T2 cược 6 điểm tương đương số tiền 300.000 đồng) thì bị phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.

[3] Bị cáo Trần Quang Đ đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, nhưng mức độ hành vi thực hiện chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, hành vi bị cáo Đ thực hiện là giúp sức cho bị cáo Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn C1, Nguyễn Hoàng T2 và Phạm Minh T3 đánh bạc trái phép qua mạng, số tiền đánh bạc mà bị cáo giúp sức cho hành vi đánh bạc trái phép là 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm ngàn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Trần Quang Đ thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc”, thuộc trường hợp sử dụng mạng internet để phạm tội, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Bị cáo Nguyễn Văn T1 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, dưới hình thức đá gà qua mạng, số tiền đánh bạc là 5.100.000₫ (năm triệu một trăm ngàn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T1 thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc”, thuộc trường hợp sử dụng mạng internet để phạm tội, tội phạm và

5

hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[6] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng nên cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Tuy nhiên, xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự nay mới phạm tội lần đầu; các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn và là lao động chính trong gia đình; có người thân là người có công với cách mạng nên cần xem xét áp dụng các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

[8] Xét thấy, các bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn T1 đều có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì chưa có vi phạm pháp luật nào khác, đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú; đều có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó có 1 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù, cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo đối với các bị cáo.

[9] Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, mức độ thu lợi không lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[10] Đối với Huỳnh Văn C1, Nguyễn Hoàng T2 và Phạm Minh T3 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, tuy nhiên mức độ vi phạm chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện C xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

[11] Ngoài ra, bị cáo Trần Quang Đ khai là ông Nguyễn Văn L đã giao trang mạng để cho bị cáo Đ tổ chức đánh bạc trái phép. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được ông Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi này nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[12] Về tang vật chứng của vụ án:

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số IMEI 1: 353902107874646, số IMEI 2: 353902107844383, không có thẻ sim, đã qua

6

sử dụng, đây là tài sản của bị cáo Trần Quang Đ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • Đối với số tiền 23.667.000đ (hai mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn đồng), đây là tiền sử dụng vào việc đánh bạc trái phép và tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    1. Tuyên bố các bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”;
    2. Xử phạt: Trần Quang Đ 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án;
    3. Xử phạt: Nguyễn Văn T1 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án;

Giao các bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số IMEI 1: 353902107874646, số IMEI 2: 353902107844383, không có thẻ sim, đã qua sử dụng; số tiền 23.667.000đ (hai mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

(Tang vật thể hiện tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh và Văn bản yêu cầu chuyển vật chứng số 194/CSĐT(HS) ngày 23/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).

7

  1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo Trần Quang Đ, Nguyễn Văn T1 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM;
  • - Viện KSND H. Cần Giờ;
  • - Công an H. Cần Giờ;
  • - Chi cục THADS H. Cần Giờ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Minh Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đáng bạc qua mạng internet
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger