Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HSST

Ngày: 15-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí.

Ông Võ Trường Tam .

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST - HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thiên Đ, sinh ngày: 24/8/1978.

Tên gọi khác: Giác.

Nơi thường trú: ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thiên P và bà Trần Thị Ngọc S; Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Tuyết T (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004; Tiền sự: không; Tiền án: Bản án số 09/2017/HSST, ngày 15/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2017, chưa xóa án tích (do chưa thi hành án phần trách nhiệm dân sự). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Họ và tên: Đỗ Chí L, sinh ngày: 22/10/1990.

Tên gọi khác: Giang N.

Nơi thường trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Minh T1 và bà Trần Thị L1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 116/QĐ-XPHC, ngày 17/11/2023, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa đóng phạt; Nhân thân: Quyết định số 3315/QĐ-UBND, ngày 06/12/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L quyết định đưa đi Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, đến ngày 06/12/2012 chấp hành xong và ngày 22/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đến ngày 22/02/2018 chấp hành xong. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Tấn L2, sinh năm: 1978 (vắng mặt).

Cư trú: ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Phước H, sinh năm: 1991 (vắng mặt).

Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ, ngày 01/01/2024, Trần Thiên Đ đi bộ từ nhà tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An đến nhà của anh Nguyễn Tấn L2, cùng địa chỉ thấy nhà anh L2 đóng cửa, nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của anh L2. Đ biết bên hông nhà anh L2 có để ổn áp dùng để sạc bình ắc quy và bình ắc quy, nên Đ đi vòng ra phía sau nhà của anh L2 rồi leo hàng rào lưới B40 vào bên hông nhà, Đ lén lút lấy trộm 01 (một) ổn áp hiệu BATTERY CHERGE 30A, loại INPUT: 220VAC-50/60 Hz, OUTPUT 12-24-36 VDC; 01 (một) bình ắc quy hiệu GLOBE, loại 12V-12Ah; 01 (một) bình ắc quy hiệu XUPAI, loại 6-FO-14 và 02 (hai) bình ắc quy hiệu OAIOLE, loại 12V-14Ah bỏ qua hàng rào, Đ đem toàn bộ tài sản lấy trộm được cất giấu tại lùm cỏ đối diện nhà anh L2, đến sáng cùng ngày, Đ đem những tài sản này về nhà cất giấu. Đến chiều ngày 02/01/2024, Đ liên lạc với Đỗ Chí L (tên thường gọi là Giang N) nhờ L chở Đ đến nhà L chơi, một lúc sau, L điều khiên xe môtô đến nhà Đ chở Đ cùng 04 (bốn) bình ắc quy bỏ trong bịch nylon, Đ nói với L: “Tao có mấy cái bình mầy coi có ai mua thì bán dùm tao”, L hỏi Đ: “B ở đâu?”, Đ nói: “Tao lấy của người ta”, khi về đến nhà L, L mở bịch nylon lấy 04 (bốn) bình ắc quy xem và hỏi Đ: “Lấy của ai, ở đâu vậy?”, Đ nói: “Lấy của tiệm xe điện chạy ngoài Chợ N1”. Sau đó, L lấy 03 (ba) bình ắc quy bán cho anh Nguyễn Phước H với giá 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), L mua đồ ăn, nước uống và thuốc hút hết số tiền 200.000 đồng và đưa lại cho Đ số tiền 100.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, như sau: 01 (một) ổn áp hiệu BATTERY CHERGE 30A, loại INPUT: 220VAC - 50/60 Hz, OUTPUT 12-24-36 VDC có giá trị 3.630.000 đ (ba triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng); 01 (một) bình ắc quy hiệu GLOBE, loại 12V-12Ah có giá trị 350.000 đ (ba trăm năm mươi ngàn đồng); 01 (một) bình ắc quy hiệu XUPAI, loại 6-FO-14 có giá trị 350.000 đ (ba trăm năm mươi ngàn đồng) và 02 (hai) bình ắc quy hiệu OAIOLE, loại 12 V-14Ah có giá trị 700.000 đ (bảy trăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản trị giá là 5.030.000 đồng (Năm triệu không trăm ba mươi ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKSCG, ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Thiên Đ từ 09 tháng đến 01 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đỗ Chí L từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Long An tạm giữ và hoàn trả: 01 (một) ổn áp hiệu BATTERY CHERGE 30A; 01 (một) bình ắc quy hiệu GLOBE; 01 (một) bình ắc quy hiệu XUPAI và 02 (hai) bình ắc quy hiệu OAIOLE, là phù hợp.

Trách nhiệm dân sự: anh L2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, anh H không yêu cầu bị cáo L hoàn trả số tiền 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng). Nên đề nghị không xem xét.

Hai bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Hai bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 00 giờ, ngày 01/01/2024, tại nhà của anh Nguyễn Tấn L2, Trần Thiên Đ đã trèo qua hàng rào, lén lút lấy trộm 01 (một) ổn áp; 04 (một) bình ắc quy là tài sản của anh L2. Theo Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS, ngày 04/01/2024 thì tổng giá trị tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt của anh L2 là 5.030.000 đồng. Tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Đến ngày 02/01/2024, Nguyễn Chí L3 biết rõ số tài sản do Đ trộm cắp mà có tuy không hứa hẹn trước, nhưng L3 vẫn lấy 03 (ba) bình ắc quy bán cho anh Nguyễn Phước H với giá 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo L3 đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của hai bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo Đ nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo L3 tuy không hứa hẹn trước, nhưng vẫn tiêu thụ tài sản do bị cáo Đ trộm cắp, gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Do đó, cần thiết xử lý hai bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: bị cáo L3 phạm tội không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Đ có một tiền án, theo Bản án số 09/2017/HSST, ngày 15/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2017, chưa xóa án tích (do chưa thi hành án phần trách nhiệm dân sự), nay lại tiếp tục phạm tội mới, là tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: hai bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về nhân thân: hai bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Bị cáo Đ có một tiền án như đã phân tích tại phần [5]. Bị cáo L3 có một tiền sự, theo Quyết định số 116/QĐ-XPHC, ngày 17/11/2023, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và nhân thân: Quyết định số 3315/QĐ-UBND, ngày 06/12/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L quyết định đưa đi Cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng, đến ngày 06/12/2012 chấp hành xong và Quyết định của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, ngày 22/10/2016 đưa đi cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đến ngày 22/02/2018 chấp hành xong.

[8] Xét thấy cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với hai bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo L3 theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự.

[9] Đối với anh Nguyễn Phước H có hành vi mua ba bình ắc quy do bị cáo L3 bán, nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.

[10] Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ và hoàn trả cho bị hại anh Nguyễn Tấn L2: 01 (một) ổn áp hiệu BATTERY CHERGE 30A; 01 (một) bình ắc quy hiệu GLOBE; 01 (một) bình ắc quy hiệu XUPAI và 02 (hai) bình ắc quy hiệu OAIOLE, là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh L2 đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 124) không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Phước H tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 127) không yêu cầu bị cáo L3 trả lại số tiền là 300.000 đồng, nên không xem xét.

[12] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thiên Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Đỗ Chí L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Thiên Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án (15/5/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đỗ Chí Linh 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THA huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa



NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cần Giuộc, ngày 15 tháng 5 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 15 tháng 5 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí.

Ông Võ Trường Tam .

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS, ngày 25/4/2024 đối với bị cáo: Trần Thiên Đức và Đỗ Chí Linh.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Trần Thiên Đức phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Đỗ Chí Linh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  2. Về Điều luật áp dụng:

    Đối với: Trần Thiên Đức: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Đối với Đỗ Chí Linh: Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  3. Về hình phạt:

    Xử phạt: Trần Thiên Đức 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2024.

    Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đức 45 ngày kể từ ngày tuyên án (15/5/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

    Xử phạt: Đỗ Chí Linh 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  4. Các vấn đề khác:

    Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

    Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

    Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 45 phút, cùng ngày.

    Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

NGUYỄN MINH CHÍ - VÕ TRƯỜNG TAM NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 42/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRần Thiện Đ phạm tội "TRộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger