TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 10-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Đại.
Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Tình và ông Nguyễn Chí Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 và ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Đắc Đ, sinh ngày 06/10/2001 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: khối phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Đình H (đã chết) và bà Phan Thị T; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: chưa.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt ngày 07/5/2024, vắng mặt ngày 10/5/2024.
Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Thanh Đ1, sinh năm 1996; Địa chỉ: K D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Ông Phan Quang H1, sinh năm 2001.
- Địa chỉ: khối phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- - Bà Hồ Thị Thu T2, sinh năm 1994.
- Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- - Ông Trịnh Đình T3, sinh năm 1976.
- Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hồ Đắc Đ và anh Phan Quang H1 là người được ông Nguyễn Thanh Đ1 thuê (hợp đồng miệng) để lái xe ôtô tải BKS 16H-6751 và phụ xe ô tô trên cho ông Đ1, trong đó bị cáo được thuê để phụ bốc hàng, còn anh Phan Quang H1 được thuê để lái xe.
Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 08/11/2022, Phan Quang H1 điều khiển xe ôtô tải BKS 16H-6751 chở bị cáo Hồ Đắc Đ đi từ thành phố T, tỉnh Quảng Nam đến thành phố Đà Nẵng để lấy hàng cho ông Đ1. Đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, khi cả hai đi đến đoạn đường V thuộc địa phận huyện D thì H1 giao xe ôtô tải BKS 16H-6751 cho bị cáo Đ điều khiển, còn H1 ngồi ở ghế phụ lái của xe. Khi bị cáo điều khiển xe đi đến đoạn đường vòng xoay ngã 5 thuộc thôn S, xã D thì 02 lon nước bò húc trên xe bị ngã. Lúc này, H1 cúi người xuống lau dọn, còn bị cáo Đ quay mặt qua bên phải nhìn H1 dọn dẹp nước đổ và lau loa nghe nhạc B. Cùng lúc này, có bà Nguyễn Thị T1 đang điều khiển xe môtô BKS 92H1-208.07 (do bà Hồ Thị Thu T2, sinh năm 1994; trú Q, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam- là con ruột của bà T1 đứng tên chủ sở hữu) chạy phía trước cùng chiều với xe ôtô tải BKS 16H-6751 do bị cáo Đ điều khiển. Do không tập trung quan sát phía trước nên bị cáo Đ đã điều khiển xe ôtô tải BKS 16H-6751 tông vào đuôi xe môtô BKS 92H1-208.07 gây tai nạn làm cho xe môtô BKS 92H1-208.07 và bà T1 ngã xuống đường. Xe ôtô tải BKS 16H-6751 tiếp tục chạy đến đè qua người của bà T1 làm bà Nguyễn Thị T1 bị thương. Bà T1 được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ4 đến ngày 16/8/2023 xuất viện.
Tại bản giám định bổ sung thương tích số 812/GĐTT.23 ngày 12/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q đối với thương tích của bà Nguyễn Thị T1 kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích của bà Nguyễn Thị T1 tại thời điểm hiện tại là 89%.
Bản cáo trạng số: 35/CT-VKSDX ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Hồ Đắc Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện D vẫn giữ nguyên nội dung truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng.
- - Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 601 của Bộ luật dân sự, công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Đ, bị đơn dân sự ông Nguyễn Thanh Đ1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Quang H1 và bị hại Nguyễn Thị T1 như sau: Bị cáo Hồ Đắc Đ, ông Nguyễn Thành Đ2, ông Phan Quang H1 thống nhất bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị T1 tổng thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là 300.000.000 đồng; trong đó bị cáo Đ bồi thường 150.000.000 đồng, ông Đ2 bồi thường 75.000.000 đồng, ông Phan Quang H1 bồi thường 75.000.000 đồng.
Bị cáo Hồ Đắc Đ đã bồi thường số tiền 135.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 15.000.000 đồng; ông Phan Quang H1 đã bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, số tiền còn lại ông H1 phải tiếp tục bồi thường là 10.000.000 đồng; ông Nguyễn Thanh Đ1 đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, số tiền còn lại ông Đ1 phải tiếp tục bồi thường 65.000.000 đồng.
- - Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:
Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe ô tô tải mang biển kiểm soát 16H-6751 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 92H1-208.07, Cơ quan điều tra Công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Hồ Thị Thu T2.
Trả lại cho bị cáo Hồ Đắc Đ 01 giấy phép lái xe mang tên Hồ Đắc Đ.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích các chứng cứ xác định các bị cáo phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Đắc Đ khai nhận: Vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đoạn đường thuộc địa phận thôn S, xã D do bị cáo gây ra. Nguyên nhân vụ tai nạn là do bị cáo điều khiển xe ôtô nhưng không chú ý quan sát phía trước nên đã tông vào phần đuôi xe môtô 92H1-208.07 do bà Nguyễn Thị T1 điều khiển đang đi phía trước cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả làm cho bà Nguyễn Thị T1 bị thương tích 89%.
Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy phù hợp; căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 08/11/2022; căn cứ biên bản dựng lại hiện trường ngày 29/12/2022; các kết luận giám định, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo Hồ Đắc Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như cáo trạng số: 35/CT-VKSDX ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Hồ Đắc Đ là người đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ xe ôtô là nguồn nguy hiểm cao độ, người điều khiển phải chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông nhưng bị cáo đã không tuân thủ các quy định này. Lỗi trong vụ án này thuộc về bị cáo khi điều khiển xe ô tô tải nhưng vì chủ quan mà không chú ý quan sát phía trước nên gây ra tai nạn giao thông dẫn đến bà Nguyễn Thị T1 bị thương tích 89%. Hành vi của bị cáo gây ra rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác nên Hội đồng xét xử cần xử phạt mức án nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn thật sự biết ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục phần lớn thiệt hại cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trong vụ tai nạn này, bị cáo điều khiển xe nhưng không tuân thủ đúng quy định của Luật giao thông đường bộ, không chú ý quan sát nên đã tông vào đuôi xe của bà Nguyễn Thị T1, làm bà T1 ngã. Khi nghe tiếng “ầm” do vụ tai nạn gây ra thì bị cáo hốt hoảng nên đã nhấn nhầm chân ga, làm bánh xe sau của xe ô tô đè lên đi qua người bà T1. Hậu quả bà T1 bị thương tích 89%. Như vậy, bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng bà T1 mà chỉ là vụ tai nạn giao thông thông thường. Hội đồng xét xử thấy trong vụ án này lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã chủ động xuống cứu chữa bị hại, đến động viên thăm nom người bị hại và đã bồi thường phần lớn thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Vì vậy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp cần chấp nhận.
[4] Về dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo Hồ Đắc Đ, ông Phan Quang H1 và ông Nguyễn Thanh Đ1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà T1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Bị cáo Hồ Đắc Đ, ông Nguyễn Thanh Đ1 và ông Phan Quang H1 thống nhất bồi thường số tiền trên cho bà T1, trong đó bị cáo Đ bồi thường 150.000.000 đồng, ông Đ1 bồi thường 75.000.000 đồng, ông Phan Quang H1 bồi thường 75.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy việc các bên tự nguyện thỏa thuận là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Bị cáo Hồ Đắc Đ đã bồi thường số tiền 135.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 15.000.000 đồng; ông Phan Quang H1 đã bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, số tiền còn lại ông H1 phải tiếp tục bồi thường là 10.000.000 đồng; ông Nguyễn Thanh Đ1 đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, số tiền còn lại ông Đ1 phải tiếp tục bồi thường 65.000.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự các vật chứng được xử lý như sau:
- - Đối với: 01 (một) xe ô tô mang biển kiểm soát 92H1-208.07, Cơ quan điều tra Công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Hồ Thị Thu T2. Xét việc trả lại là đúng nên không đề cập giải quyết.
- - Đối với: 01 (một) xe ôtô tải mang biển kiểm soát 16H-6751 của ông Nguyễn Thanh Đ1. Do ông Nguyễn Thanh Đ1 chưa bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại nên cần tiếp tục giữ chiếc xe để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Đối với: 01 Giấy phép lái xe của bị cáo Hồ Đắc Đ cần trả lại cho bị cáo.
[6] Các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án:
- - Ông Nguyễn Thanh Đ1 yêu cầu bị cáo Đ3 bồi thường thiệt hại do bị mất thu nhập vì Cơ quan tiến hành tố tụng tạm giữ xe của ông Đ1. Ông Nguyễn Thành Đ2 có quyền khởi kiện vụ án dân sự để giải quyết trong vụ án dân sự khác khi thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hồ Đắc Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Xử phạt: bị cáo Hồ Đắc Đ: 12 (Mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/5/2024).
Giao bị cáo Hồ Đắc Đ cho cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- + Tiếp tục tạm giữ: 01 (một) xe ôtô tải, mang biển kiểm soát 16H-6751 để đảm bảo việc thi hành án.
(Vật chứng này hiện tại đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/5/2024)
Trả lại cho bị cáo Hồ Đắc Đ: 01 Giấy phép lái xe mang tên Hồ Đắc Đ.
(Hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án)
3. Về dân sự: Áp dụng Điều 7, Điều 12 của Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Điều 584, Điều 585, Điều 590 và Điều 601 của Bộ luật dân sự, công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với người bị hại; buộc bị cáo Hồ Đắc Đ, ông Phan Quang H1 và ông Nguyễn Thanh Đ1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị T1 tổng số tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), chia phần bị cáo Hồ Đắc Đ tự nguyện bồi thường số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm, năm mươi triệu đồng), ông Phan Quang H1 tự nguyện bồi thường số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng), ông Nguyễn Thanh Đ1 tự nguyện bồi thường số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng).
Bị cáo Hồ Đắc Đ đã bồi thường số tiền 135.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); ông Phan Quang H1 đã bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, số tiền còn lại ông H1 phải tiếp tục bồi thường là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); ông Nguyễn Thanh Đ1 đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, số tiền còn lại ông Đ1 phải tiếp tục bồi thường 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí: áp dụng Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Đắc Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Phan Quang H1 phải chịu 500.000 đồng (Năm trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Nguyễn Thanh Đ1 phải chịu 3.250.000 đồng (Ba triệu, hai trăm năm mươi ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2024); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đại |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án treo
