|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 04/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thạch
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hữu Luân
2. Bà Lê Thị Cẩm Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn M - Kiểm sát viên.
Ngày 04/7/2024, tại điểm cầu Trung tâm phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an H1, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 27/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 30/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1988; Quê quán: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Võ Văn H, sinh năm 1963 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con : Chưa có; Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án, cụ thể: Ngày 27/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh H xử phạt 30 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo khoản 2 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999, Bản án số 09/2015/HS-ST ; Ngày 24/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tinh xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (hành vi xảy ra ngày 01/12/2013, trước khi xét xử bản án số 09/2015/HSST), theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; tổng hợp hình phạt của Bản án số 09/2015/HS-ST ngày 27/01/2015, Võ Văn T phải
chấp hành 54 tháng tù theo Bản án số 22/2015/HS-ST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/9/2018, nhưng chưa được xóa án tích, thì ngày 23/12/2018 lại phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh H xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, Bản án số 25/2019/HS-ST, ngày 15/5/2019 (Bản án xác định tái phạm), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 12/9/2023, nhưng chưa được xóa án tích thì lại phạm tội nêu trên; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 25/12/2006, bi Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tinh xử phạt 04 năm tù giam về tội "Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia" theo khoản 1 Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội "Trộm cắp tài sản theo" khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, tại Bản án số 107/2006/HS-ST, đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích theo Quyết định xóa án tích số 01/2012/QĐ-CA, ngày 08/10/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 09/02/2024 đến ngày 15/02/2024, chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh và chuyển Trại tạm giam Công an tỉnh H1 cho đến nay. (Có mặt tại điểm cầu thành phần)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Tuấn P; sinh năm: 1989; Nghề nghiệp: Kinh doanh buôn bán; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Công chức; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- Ông Lê Minh Q, sinh năm: 1973 nghề nghiệp: Kinh doanh; Địa chỉ: Tổ G, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa: Đồng chí Phạm Đình T1, Tổ dẫn giải, Đội cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Công an H1 (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 23 giờ 20 phút ngày 08/02/2024, tại Km 575+600 đường Q, thuộc tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, tổ công tác Công an thị xã K phát hiện Võ Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 52X-5797 có dấu hiệu vi phạm nồng độ cồn nên yêu cầu Võ Văn T dừng xe để kiểm tra. Khi dừng xe, tổ công tác Công an thị xã K tiến hành đo nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy đối với Võ Văn T. Kết quả Võ Văn T dương tính với ma túy (Methamphetamine) và có nồng độ cồn trong hơi thở. Sau khi kiểm tra nồng
độ cồn và xét nghiệm ma túy, Võ Văn T tự nguyện khai nhận là có gói ma túy đá, T sử dụng chưa hết đang cất giấu trong xe ô tô và tự nguyện lấy gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ma túy đá) ở trong xe ô tô của mình ra giao nộp cho tổ công tác Công an thị xã K. Cơ quan điều tra Công an thị xã K tiến hành khám xét khẩn cấp xe ô tô BKS: 52X-5797 của Võ Văn T nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến tội phạm về ma túy.
Quá trình điều tra, Võ Văn T khai nhận: Trưa ngày 07/02/2024, khi đang đi chơi ở thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh do muốn sử dụng ma túy nên Võ Văn T đi bộ tìm mua ma túy để sử dụng. Khi thấy một chiếc xe taxi đang đậu bên đường (không rõ biển kiểm soát) thì Võ Văn T lại hỏi người đàn ông lái xe taxi (không biết ro họ tên, dịa chi) có biết ai bán ma túy đá không? thì được người này trả lời là biết một nguời đàn ông tên “T2” có bán ma túy đá. Võ Văn T đưa cho người đàn ông lái xe taxi 1.000.000đ để nhờ mua ma túy và 200.000đ tiền cước taxi, thì được người này đồng ý và gọi điện thoại cho người đàn ông tên "T2" đặt mua 1.000.000đ tiền ma túy đá. Sau khi gọi điện thoại hỏi mua ma túy, người đàn ông lái xe taxi chở Võ Văn T đi đến khu vực cách cổng bến xe H khoảng 200m thì dừng lại ngang một người đàn ông đang ngồi trên một chiếc xe mô tô (không biết rõ họ tên, địa chỉ và biển kiểm soát xe) rồi hạ kính cửa xe taxi và đưa 1.000.000đ, người này nhận tiền rồi bỏ một gói ni lông màu trắng xuống mặt đường phía trước xe taxi rồi rời đi. Võ Văn T xuống xe và đi đến nhặt gói ma túy đá bỏ vào túi quần của mình, rồi bắt xe buýt về huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/02/2024, Võ Văn T đi bộ đến một vườn cây ở địa bàn xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh lấy một phần ma túy đá đã mua được ra sử dụng; phần còn lại vẫn để trong gói ni lông và cất vào túi quần đang mặc. Đến 20 giờ cùng ngày, Võ Văn T lấy gói ma túy còn lại chưa sử dụng hết cất vào trong ngăn để đồ của mặt sau ghế lái xe ô tô BKS: 52X-5797 của mình để khi nào cần thì sử dụng, rồi điều khiển xe ô tô đi vào phường K, thị xã K uống rượu. Sau khi uống rượu xong, Võ Văn T điều khiển xe ô tô ô tô BKS: 52X-5797 đi theo đường Quốc lộ I; khi đến địa bàn Tổ dân phố N, phường K, Thị xã K thì bị Tổ công tác Công an thị xã K dừng xe kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy. Sau khi kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy, Võ Văn T tự nguyện khai nhận đang cất giấu gói ma túy đá ở trong xe ô tô của mình để sử dụng và tự nguyện lấy gói ma túy ra giao nộp cho Tổ công tác Công an thị xã K.
Tại Bản kết luận giám định số 397/KL-KTHS, ngày 15/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H1 kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ của Võ Văn T gửi đến giám định là Methamphetamine, có khối lượng 1,3944
gam. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II.C, số thứ tự 247, Nghị định số 57, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đồng ý với quyết định truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Võ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Võ Văn T mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 09/02/2024; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói ni lông màu trắng, được cuộn lại, kích thước (4x2,4)cm, bên trong chứa 1,3944 gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định 0,0537 gam còn 1,3407 gam đã đóng gói niêm phong); Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô hiệu Ford, màu đen, BKS: 52X-5797, số máy AJ331142, số khung: BMERP3U02061, xe đã qua sử dụng, không phải là phương tiện phạm tội trong vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên, Điều tra viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 07/02/2024, Võ
Văn T đi ra thành phố H nhờ một người lái xe taxi (không rõ họ tên, địa chỉ) chở đi mua của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000đ để về sử dụng. Vào khoảng 23 giờ 20 phút ngày 08/02/2024, Võ Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 52X-5797 của mình chạy trên đường quốc lộ A, khi đi đến Km 575+600, thuộc tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì bị Tổ công tác Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn và tiến hành xét nghiệm chất ma túy, thì Võ Văn T đã tự nguyện khai nhận là đang cất giấu 01 gói ma túy đá trên xe ô tô của mình để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Với hành vi cất dấu 1,3944 gam Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 2 tiền án, chưa được xoá án tích, đã tái phạm nay lại phạm tội mới nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-TXKA ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố, đề nghị xét xử bị cáo về tội danh, điều luật quy định như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo; Tại thời điểm Tổ công tác Công an thị xã K khi kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông và test nhanh ma tuý thì bị cáo đã tự nguyện khai nhận và lấy ra số ma tuý đã cất dấu trên xe ô tô của mình giao nộp cho Tổ công tác, bị cáo đã tự khai nhận và giao nộp ra số ma tuý của mình khi chưa ai biết nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: người phạm tội thành khẩn khai báo và Người phạm tội tự thú theo định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi, tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng, bản thân không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông không quen biết đã liên hệ, đưa Võ Văn T đến địa điểm mua ma túy và người đàn ông không quen biết bán ma túy cho Võ Văn T. Do Võ Văn T không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa đủ cơ sở xác định xử lý, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo luật định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án ông Lê Minh Q (người đứng tên trên giấy đăng ký xe ô tô) đã tặng cho bà Nguyễn Thị Minh N1 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 52X-5797, bà Nguyễn Thị Minh N1 đã bán lại chiếc xe ô tô này cho ông Trần Tuấn P, ông Trần Tuấn P bán lại cho bị cáo Võ Văn T. Tất cả người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều thừa nhận chiếc xe ô tô đã bán lại cho bị cáo, do đó chiếc xe ô tô biển kiểm soát 52X-5797 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Võ Văn T. Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên miễn xét.
* Về vật chứng:
- Xét vật chứng 01 gói ni lông màu trắng, được cuộn lại, kích thước (4x2,4)cm, bên trong chứa 1,3407 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định 0,0537 gam). Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, Mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ, đây là vật chứng cấm lưu hành, cấm sử dụng, cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Xét tài sản thu giữ: 01 xe ô tô hiệu Ford, màu đen, BKS: 52X-5797, số máy AJ331142, số khung: BMERP3U02061, đã qua sử dụng, đứng tên trên giấy đăng ký xe là chủ sở hữu là ông Lê Minh Q. Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều thừa nhận chiếc xe ô tô đã bán lại cho bị cáo, do đó chiếc xe ô tô biển kiểm soát 52X-5797 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Võ Văn T. Khi bị bắt giữ thì bị cáo sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để tham gia giao thông trên đường bộ, không sử dụng chiếc xe này vào mục đích để tìm nơi sử dụng ma tuý, không sử dụng chiếc xe để nguỵ trang làm
nơi che đậy ma tuý và số lượng ma túy thu giữ ít, chỉ mục đích sử dụng (1,394gam) nên xác định chiếc xe này không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trong vụ án và trả lại cho bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt Võ Văn T 5 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 09/02/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 gói ni lông trong suốt chứa 1,3407 gam Methamphetamine (Mẫu còn lại sau khi giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì thư có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, tại mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và bị cáo Võ Văn T;
- - Trả lại cho bị cáo Võ Văn T 01 xe ô tô hiệu Ford, màu đen, BKS: 52X-5797, số máy AJ331142, số khung: BMERP3U02061, đã qua sử dụng, đứng tên trên giấy đăng ký xe là chủ sở hữu là ông Lê Minh Q.
- (Tình trạng các vật chứng trên có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã K với Cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh).
- Về án phí: Buộc bị cáo Võ Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thạch |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 42
