Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC HỒI

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 30/10/2024

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Hữu Luân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thế Hồi và ông Trương Ngọc Lễ.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Đình Tú - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Đàm Công Tư - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:

Hà Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 12 năm 1996; quê quán: Xã T, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thường trú, Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum; chỗ ở hiện nay, TDP D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Hà Văn B (đã chết) và bà Phạm Thị S; có vợ là Y M và 01 con sinh năm 2022; hiện nay mẹ đẻ của bị cáo cư trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; vợ, con của bị cáo cư trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Bị cáo bị bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2017/HSST ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt 06 năm tù về hai tội “Hiếp dâm trẻ em” và “Giao cấu với trẻ em”; ngày 02/7/2021 bị cáo chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024 đến ngày hôm nay (có mặt tại phiên tòa).

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum;

Truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;

- Người bị hại;

  • + Bùi Minh H; năm sinh 1984; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  • + Nguyễn Bích T; sinh năm 1997; nơi cư trú: TDP D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
  • + Phan Thanh B1; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

- Người làm chứng;

  • + Nguyễn Đức T1; sinh năm 1986; nơi cư trú: TDP A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
  • + Bùi Văn T2; sinh năm 1976; nơi cư trú: TDP E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 3/2024 bị cáo Hà Văn Q ở chung nhà với chị Nguyễn Bích T tại TDP4, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Bị cáo dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K của chị T có số sim 0364 765 926 đã có tài khoản Zalo của Q. Do quen biết Bùi Minh H và biết H có một số mối quan hệ xã hội phức tạp, có thể hù dọa H để chiếm đoạt tiền. Nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Bùi Minh H; bị cáo đổi tên tài khoản Zalo của bị cáo thành tài khoản Z “Xuân Hoan” ông H1 là cán bộ điều tra, thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công An huyện N; sau đó bị cáo tháo sim 0364 765 926 ở điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K ra, lắp sim vào điện thoại di động nhãn hiệu Itel S15 Pro (điện thoại thứ 2) của chị T; bị cáo lắp sim số 0389 389 603 của bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K để sử dụng; ngày 29/6/2024 bị cáo dùng tài khoản Zalo “Xuân Hoan” kết bạn với tài khoản Zalo “người vận chuyển” của Bùi Minh H; lúc đầu mới kết bạn với H bị cáo nhắn tin trêu đùa để H tin, bị cáo là ông H1 (Công an điều tra); H tin bị cáo là ông H1; thực hiện ý định chiếm đoạt tài sản, bị cáo bắt nọn (hù dọa) H; yêu cầu H chuyển cho bị cáo (Xuân hoan) 5.000.000 đồng để lo công việc; H đồng ý, ngày 01/7/2024 (BL 144, 145) bị cáo đang chơi game trên điện thoại nên bị cáo yêu cầu H chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản 1336864017 T4 Huỳnh Thị Ngọc T3, là tài khoản nộp tiền để chơi game, chơi hết tiền; cũng khoảng thời gian này bị cáo lại yêu cầu H chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản 136812101992 Mb của anh Phan Thanh B1 (anh B1 là bạn của bị cáo Q), cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum, H chuyển tiền cho B1; bị cáo yêu cầu B1 chuyển tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản 040105880881 S1 Hà Văn Q của bị cáo và dùng chơi game hết. Chiều ngày 02/7/2024, bị cáo nhắn tin nói với H; nói “đã ứng số tiền 5.000.000 đồng lo công việc cho H” và yêu cầu H chuyển nốt 2.000.000 đồng, lúc này H vẫn tin bị cáo là ông H1 (C); H nhắn tin lại nói “tài khoản hết tiền, chỉ có tiền mặt”; bị cáo nhắn tin lại nói “Bỏ tiền vào phong bì, bỏ phong bì vào hộp bánh, bỏ hộp bánh vào túi bóng đen” đem đến vọng gác trụ sở Công an huyện N gửi, nói với người canh gác là gửi cho anh H1; H đồng ý thực hiện đúng yêu cầu của bị cáo. Sau đó bị cáo nhắn tin cho Nguyễn Đức T1 là lái xe dịch vụ (là khách quen) yêu cầu T1 đến chỗ bị cáo ở đón bị cáo và chở bị cáo đến trụ sở Công an huyện N. T1 đồng ý đón chở bị cáo đến trụ sở Công an huyện N; bị cáo vào vọng gác nói với trực ban “nhận hộ anh H1 gói quà, có người mới gửi”; bị cáo nhận gói quà thì bị Công an huyện N bắt quả tang; thu giữ tang vật, trong số tang vật có 02 triệu đồng.

Cơ quan điều tra Công an huyện N đã điều tra tài khoản 1336864017 T4 Huỳnh Thị Ngọc T3, là tài khoản nộp tiền để chơi game để thu hồi tang vật của vụ án nhưng chưa truy tìm được; tìm được cơ quan chức năng sẽ xử lý theo quy định.

Hà Văn Q sử dụng điện thoại nhãn hiệu OPPO A16K của chị Nguyễn Bích T, sim điện thoại số 0389.389.xxx của bị cáo, kết nối Z, nhắn tin lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bùi Minh H, chị T không biết nên chị T không đồng phạm với bị cáo.

Phan Thanh B1 cho Bùi Minh H chuyển tiền vào tài khoản 136812101992 Mb của anh Phan Thanh B1 (của B1) để B1 chuyển tiền cho bị cáo; B1 không biết tiền chuyển vào tài khoản của B1 là do phạm tội mà có nên B2 không đồng phạm với bị cáo.

Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-NH ngày 26 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sựTại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc H2 giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn Q mức án từ 10 tháng đến 15 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về tài sản, vật chứng của vụ án;

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị, giá trị sử dụng sau:

  • - Gồm có 01 túi ni lông màu đen đã qua sử dụng; 01 hộp bánh bằng giấy; 01 khay đựng bánh màu trắng; một phong bì; sim số 0389 389 603.

Tài sản không phải là vật chứng của vụ án;

  • - Tài sản: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K màu đen của chị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel S15 Pro có gắn sim số 0364 765926 của bị cáo, đề nghị trả lại cho chủ sở hữu.
  • - Bị hại Bùi Minh H đã được trả lại 2.000.000 đồng; nên không đề nghị Hồi đồng xét xử xem xét.

Về trách nhiệm dân sự;

Bị cáo Hà Văn Q đã hoàn trả cho Bùi Minh H 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và Bùi Minh H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không đề nghị Hồi đồng xét xử xem xét.

Về án phí;

Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo Hà Văn Q thừa nhận Cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đúng là bị cáo đã bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Bùi Minh H 5.000.000 đồng; trong đó bị cáo đã tiêu mất 3.000.000 đồng và đã hoàn trả cho người bị hại 3.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. 2.000.000 đồng Công an huyện đã thu và trả lại cho H; bị cáo đã thật thà khai báo, ăn hối cải. Ngày 02/7/2021 bị cáo chấp hành xong án phạt tù; ngày 01/7/2024 bị cáo phạm tội; thời gian chấp hành xong án phạt tù của bị cáo chưa đủ 03 năm, bị cáo chưa được xóa án tích; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” là đúng; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo dùng tài khoản Zalo giả “Xuân Hoan”, bị cáo tự xưng mình là H1 (ông H1 là cán bộ điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện N), kết bạn với tài khoản Zalo “người vận chuyển” của Bùi Minh H; vào ngày 01/7/2024 bị cáo ép buộc H hai lần chuyển cho bị cáo số tiền 3.000.000 đồng để bị cáo chơi game; sau đó bị cáo yêu cầu H “Bỏ tiền vào phong bì, bỏ phong bì vào hộp bánh, bỏ hộp bánh vào túi bóng đen” đem đến vọng gác trụ sở Công an huyện N gửi; nói với cán bộ trực ban là, gửi quà cho anh H1. Bị cáo thuê xe ô tô đi đến vọng gác trụ sở Công an huyện N nói với trực ban “Nhận giúp anh H1 túi quà có người mới gửi”, trực ban giao túi quà trong có 2.000.000 đồng cho bị cáo, thì bị cáo bị bắt. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành; do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có đủ căn cứ để chấp nhận.

[3] Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2017/HSST ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt bị cáo 06 năm tù về hai tội “Hiếp dâm trẻ em” và “Giao cấu với trẻ em”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại; thật thà khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình bị cáo được hưởng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 02/7/2021 bị cáo chấp hành xong án phạt tù; ngày 01/7/2024 bị cáo lại phạm tội do lỗi cố ý, bị cáo chưa được xóa án tích lại phạm tội mới; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Bùi Minh H 5 triệu đồng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo có dự mưu trước và rất xảo quyệt, liều lĩnh (giả danh cán bộ điều tra Công an huyện N để lừa đảo), làm mất uy tín của cơ quan tố tụng; gây mất trật tự trị an tại địa phương, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hình sự của bị cáo để xử lý nghiêm; mức hình phạt phải đủ làm cho bị cáo thấy được tính thấu lý, đạt tình của pháp luật mà cố gắng lao động, cải tạo, rèn luyện, phấn đấu để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo có không công việc làm, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; nên cần miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[6] Quan điểm của Hội đồng xét xử đối với luận tội, đề nghị loại hình phạt, mức hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cáo;

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hà Văn Q mức án từ 10 tháng đến 15 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là đủ căn cứ, đúng pháp luật cần được chấp nhận.

Về tài sản, vật chứng của vụ án;

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng thấy cần tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị, giá trị sử dụng sau:

  • - Gồm có 01 túi ni lông màu đen đã qua sử dụng; 01 hộp bánh bằng giấy; 01 khay đựng bánh màu trắng; một phong bì; sim số 0389 389 603.

Tài sản không phải là vật chứng của vụ án cần tuyên trả lại cho chị T là chủ sở hữu hợp pháp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K màu đen và sim số 0364 765926; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel S15 Pro.

Cơ quan chức năng đã trả lại cho bị hại Bùi Minh H 2.000.000 đồng; việc trả lại tài sản cho H là đúng quy định của pháp luật nên Hồi đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự;

Bị cáo Hà Văn Q đã hoàn trả cho Bùi Minh H 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) là đúng quy định của pháp luật và Bùi Minh H không có yêu cầu gì khác nên Hồi đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 174 luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng áp khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 02/7/2024).

Về hình phạt bổ sung; theo quy định tại khoản 5 điều 174 của Bộ luật hình sự; do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, đời sống kinh tế khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về tài sản, vật chứng của vụ án;

Căn cứ căn cứ điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị, giá trị sử dụng sau:

  • - Vật chứng của vụ án: Gồm có 01 túi ni lông màu đen đã qua sử dụng; 01 hộp bánh bằng giấy; 01 khay đựng bánh màu trắng; một phong bì; 01 sim điện số 0389 389 603 của bị cáo.

Tài sản không phải là vật chứng của vụ án: Tuyên trả lại cho Nguyễn Bích T là chủ sở hữu hợp pháp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K màu đen và sim số 0364 765926; trả lại cho Hà Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel S15 Pro.

Về đặc điểm, tính năng, chất lượng, giá trị, giá trị sử dụng của các tài sản, vật chứng nêu trên, như trong biên bản giao, nhận vật chứng của cơ quan Điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi, lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 10/10/2024; kèm theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 25/QĐ-VKS-NH, ngày 26/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.

Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Hà Văn Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan văng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo nói trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Ngọc Hồi;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - CQĐGT Công an huyện Ngọc Hồi;
  • - NTG Công an huyện Ngọc Hồi;
  • - Lưu HS-VA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hữu Luân

Các Hội thẩm nhân dân

Đinh Thế Hồi Trương Ngọc Lễ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hữu Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐI TÙ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger