Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Tam
  • Ông Cao Văn Hồng Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần An Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo: Lê Thị Kim T, sinh năm 1987; Tại: huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Địa chỉ nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Đào Thị H; chồng Lý Hoài T1; con 02 người Lý Tiểu My, sinh ngày 22/8/2020 và Lý Phương L, sinh ngày 21/5/2022 Tiền án không; Tiền sự: không. Nhân thân: Bị cáo T không bị kết án, không bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật đã được xoá. Bị cáo T không bị tạm giữ, tạm giam được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
  • Bùi Văn T2, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
  • Đào Thị H, sinh năm 1963. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Thị Kim T thấy việc mua, bán và giao số đề cho người khác để hưởng tiền hoa hồng có thu nhập nên nãy sinh ý định bán số đề để giao lại hưởng huê hồng, từ ngày 04 tháng 11 năm 2023 đến ngày 05 tháng 11 năm 2023 bị cáo T bán số đề cho nhiều người tại nhà thuộc địa bàn xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long cụ thể như sau:

Ngày 04/11/2023 bị cáo T đã bán và mua các số lô, số đề cho các đối tượng, theo kết quả xổ số đài miền N như sau:

Bị cáo T bán cho Phạm Thị Mỹ D mua số đầu, số đuôi số 19, 72 đài Long An; mua bao lô 19, 72, 719 đài L; mua đầu đuôi 19, 32 của đài thành phố Hồ Chí Minh; mua bao lô các số 15, 18, 32, 232 đài thành phố Hồ Chí Minh; mua số 15 đá số 18 đài thành phố Hồ Chí Minh; mua số đầu, đuôi các con số 19 qua 04 đài thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Hậu Giang, Bình Phước. Qua đối chiếu tổng số tiền bán và trúng là 3.630.000đồng.

Bị cáo T bán cho Bùi Văn T2 mua số đầu, số đuôi mua bao lô số 47, 447 qua 04 đài thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Hậu Giang, Bình Phước. Qua đối chiếu tổng số tiền bị cáo T đã bán là 1.780.000đồng.

Bị cáo T mua của 01 đối tượng tên A10 có số thuê bao 0704.965.259 không rõ họ tên địa chỉ như sau:

Mua số đầu và số đuôi số 61 qua 04 đài thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Hậu Giang, Bình Phước với số tiền 160.000đồng; mua bao lô các con số 32,52,61,75,68,252 qua 04 đài thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Hậu Giang, Bình Phước với số tiền 5.540.000đồng, qua đối chiếu tổng số tiền bị cáo T mua và trúng số lô, số đề là 9.160.000đồng.

Tổng số tiền bị cáo T mua và bán số lô, số đề của đài miền N ngày 04/11/2023 là 14.570.000đồng.

Ngày 04/11/2023 bị cáo T đã bán các số lô, số đề cho các đối tượng, theo kết quả xổ số đài miền T:

Bị cáo T bán cho Phạm Thị Mỹ D số đầu, số đuôi số 65 qua 03 đài Đ, Quảng Ngãi và Đắc N; mua bao lô các số 18, 25, 52, 65, 70, 052 qua 03 đài Đ, Quảng Ngãi và Đ với số tiền 1.452.000đồng. Qua đối chiếu tổng số tiền bị cáo T đã bán và trúng là 1.862.000đồng

Tổng số tiền bị cáo T mua và bán số lô, số đề đài miền trung ngày 04/11/2023 là 1.862.000đồng

Ngày 04/11/2023 bị cáo T đã bán các số lô, số đề cho các đối tượng, theo kết quả xổ số đài miền B:

Bị cáo T bán cho Phạm Thị Mỹ D số 25, 52, 79 đá vòng với số tiền 162.000đồng; bán số 32 đá 72 với số tiền 270.000đồng, qua đối chiếu tổng số tiền bị cáo T đã bán là 432.000đồng.

Bị cáo T bán cho Bùi Văn T2 số 24, 34, 41, 44, 81 đá vòng với số tiền 1.620.000đồng, qua đối chiếu tổng số tiền bị cáo T đã bán là 1.620.000đồng.

Bị cáo T mua của 01 đối tượng tên A10 có số thuê bao 0704.965.259 không rõ họ tên địa chỉ số đầu và số đuôi các số 08, 15, 34, 47, 75, 80 với số tiền 150.000đồng; mua bao lô các con số 08, 15, 34, 47, 75, 80 với số tiền 2.160.000đồng, qua đối chiếu tổng số tiền bị cáo T mua và trúng là 4.060.000đồng.

Tổng số tiền bị cáo T mua và bán số lô, số đề đài miền bắc ngày 04/11/2023 là 6.112.000đồng.

Ngày 05/11/2023 bị cáo T tiếp tục bán các số lô, số đề cho Phạm Thị Mỹ D theo kết quả xổ số đài Miền Nam số đầu, số đuôi số 72,68 của đài K với số tiền 180.000đồng; mua bao lô 72,68 đài Kiên Giang, số tiền 270.000đồng; mua bao lô các số 16,116 của 03 đài K, Đ, Tiền Giang với số tiền 372.000đồng; mua các số đầu, đuôi con số 16, qua 03 đài Kiên Giang, Tiền Giang, Đ với số tiền 60.000đồng. Qua đối chiếu bị cáo T bán số lô, số đề ngày 05/11/2024 với tổng số tiền 882.000đồng.

Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thu giữ: 01 (một) điện thoại Iphone 6, màu vàng đồng, số máy: MG6C2LL/A, số sê-ri: F18PCCNGG5MQ không có sim của Bùi Văn T2; 01 điện thoại di động OPPO A55, màu xanh, kiểu máy CPH 2325 bên trong có gắn sim số thuê bao 0796.939.260 của Phạm Thị Mỹ D; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, kiểu máy: V2143, số sêri: 2449435474000A9 bên trong có gắn sim số 0788955909 và 01 điện thoại di động vivo, màu trắng, kiểu máy V2111, số sêri: 3437038739004Aj, bên trong có sim số 090.3974.534 của bị cáo Lê Thị Kim T.

Ngày 08/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Thị Kim T, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị can Nguyễn Thị Kim T3 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tích cực nộp khắc phục hậu quả.

Về tang vật và đồ vật thu giữ:

Tiền Việt Nam đồng là 15.250.000đồng đã chứng minh đây là tiền của bà Đào Thị H không có liên quan đến vụ án, tuy nhiên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Về trách nhiệm nộp lại tiền do phạm tội mà có: Bị cáo T3 nộp 14.690.000đồng; Bùi Văn T2 nộp lại 3.400.000đồng; Phạm Thị Mỹ D nộp lại số tiền 5.336.000đồng hiện nay đã nộp xong.

Do Bùi Văn T2Phạm Thị Mỹ D chưa cấu thành tội phạm nên cơ quan công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối tượng tên A10 hiện nay do chưa làm việc được khi nào Cơ quan công an làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS.HMT, ngày 10 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long truy bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm trong bản luận tội, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt đối với các bị cáo áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hìnhnăm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (Ba) năm Cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung các bị cáo T từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng. Miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước đồ vật có giá trị dùng để phạm tội: 01 (một) điện thoại Iphone 6, màu vàng đồng, số máy: MG6C2LL/A, số sê-ri: F18PCCNGG5MQ không có sim của Bùi Văn T2; 01 điện thoại di động OPPO A55, màu xanh, kiểu máy CPH 2325 của Phạm Thị Mỹ D; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, kiểu máy: V2143, số sêri: 2449435474000A9 và 01 điện thoại di động vivo, màu trắng, kiểu máy V2111, số sêri: 3437038739004Aj của bị cáo Lê Thị Kim T.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền phạm tội mà có của Bị cáo T nộp 14.690.000đồng; Bùi Văn T2 nộp lại 3.400.000đồng; Phạm Thị Mỹ D nộp lại số tiền 5.336.000đồng.

Tịch thu tiêu huỷ vật không còn giá trị sử dụng: Sim số thuê bao 0796.939.260 của Phạm Thị Mỹ D; Sim số 0788955909 và Sim số 090.3974.534 của bị cáo Lê Thị Kim T.

Trả bà Đào Thị H số tiền 15.250.000đồng vì không có liên quan đến tội phạm.

Theo biên bản giao, nhận đồ, vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/3/2024 và theo lệnh thanh toán ngày 13/3/2024 tại Chi nhánh Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Lời nói sau cùng bị cáo Lê Thị Kim T không có ý kiến đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1 ] Về tố tụng:

Hành vi phạm tội của bị cáo T thực hiện tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa xét xử vắng mặt là phù hợp Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, chứng minh được các hành vi, quyết định tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[ 2 ] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa có cơ sở khẳng định ngày 04/11/2023 và ngày 05/11/2023 bị cáo Lê Thị Kim T đã bị bắt quả tang khi đang bán số đề (số lô) sau đó đã chứng minh được bị cáo T bán số đề, số lô sau đó giao lại cho người khác kiếm tiền hoa hồng tổng số tiền đã bán số và giao số là 23.426.000đồng (hai mươi ba triệu, bốn trăm hai mươi sáu ngàn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở và đúng pháp luật.

Bị cáo T thực hiện tội phạm nhiều lần là tình tiết tăng nặng. Hành vi của bị cáo T xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội, bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vì tư lợi cá nhân đã cố tình thực hiện, cần áp dụng hình phạt nghiêm mang tính chất răn đe, tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tại phiên toà tỏ ra ăn năng hối cải và đã tích cực nộp lại tiền phạm tội mà có đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuy việc phạm tội của bị cáo T vì thu lợi bất chính cần nghiêm trị nhưng do gia đình bị cáo T gặp khó khăn bị cáo T là lao động chính phải nuôi 02 con nhỏ nên Hội đồng xét xét cân nhắc các tình tiết này khi lượng hình.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào các tình tiết, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện và các tình tiết đã phân tích nên trên thì Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mà chỉ áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ và phạt tiền bổ sung là tương xứng hành vi phạm tội. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì không có việc làm ổn định.

[ 3 ] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 46, 47 Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước đồ vật có giá trị dùng để phạm tội: 01 (một) điện thoại Iphone 6, màu vàng đồng, số máy: MG6C2LL/A, số sê-ri: F18PCCNGG5MQ không có sim của Bùi Văn T2; 01 điện thoại di động OPPO A55, màu xanh, kiểu máy CPH 2325 của Phạm Thị Mỹ D; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, kiểu máy: V2143, số sêri: 2449435474000A9 và 01 điện thoại di động vivo, màu trắng, kiểu máy V2111, số sêri: 3437038739004Aj của bị cáo Lê Thị Kim T.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền phạm tội mà có của Bị cáo T nộp 14.690.000đồng; Bùi Văn T2 nộp lại 3.400.000đồng; Phạm Thị Mỹ D nộp lại số tiền 5.336.000đồng.

Tịch thu tiêu huỷ vật không còn giá trị sử dụng: Sim số thuê bao 0796.939.260 của Phạm Thị Mỹ D; Sim số 0788955909 và Sim số 090.3974.534 của bị cáo Lê Thị Kim T.

Trả bà Đào Thị H số tiền 15.250.000đồng vì không có liên quan đến tội phạm.

Theo biên bản giao, nhận đồ, vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/3/2024 và theo lệnh thanh toán ngày 13/3/2024 tại Chi nhánh Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

[ 4 ] Xét, đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.

[ 5 ] Về án phí:

Bị cáo nộp theo quy định tại Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

    Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Kim T 10.000.000đồng (mười triệu đồng). Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì không có việc làm ổn định.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an huyện M nhận được quyết định thi hành án.

    Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

    Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

  2. Về vật chứng:

    Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hìnhnăm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tốtụng hình sự.

    Tịch thu sung Ngân sách nhà nước đồ vật có giá trị dùng để phạm tội: 01 (một) điện thoại Iphone 6, màu vàng đồng, số máy: MG6C2LL/A, số sê-ri: F18PCCNGG5MQ không có sim của Bùi Văn T2; 01 điện thoại di động OPPO A55, màu xanh, kiểu máy CPH 2325 của Phạm Thị Mỹ D; 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, kiểu máy: V2143, số sêri: 2449435474000A9 và 01 điện thoại di động vivo, màu trắng, kiểu máy V2111, số sêri: 3437038739004Aj của bị cáo Lê Thị Kim T.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền phạm tội mà có của Bị cáo T nộp 14.690.000đồng; Bùi Văn T2 nộp lại 3.400.000đồng; Phạm Thị Mỹ D nộp lại số tiền 5.336.000đồng.

    Tịch thu tiêu huỷ vật không còn giá trị sử dụng: Sim số thuê bao 0796.939.260 của Phạm Thị Mỹ D; Sim số 0788955909 và Sim số 090.3974.534 của bị cáo Lê Thị Kim T.

    Trả bà Đào Thị H số tiền 15.250.000đồng (mười lăm triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

    Tiền, đồ vật theo biên bản giao, nhận đồ, vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/3/2024 và theo lệnh thanh toán ngày 13/3/2024 tại Chi nhánh Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Án phí:

    Buộc bị cáo Lê Thị Kim T nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Công an Tỉnh-Phòng hồ sơ;
  • - UBND xã Hoà Tịnh;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Huỳnh Công Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger