Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày 28 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đào
Ông Nguyễn Ngọc Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TL-HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn N; sinh ngày 28/7/1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Phú Thọ; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú, chỗ ở: khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Văn K - sinh năm 1959; Mẹ: Phạm Thị T – sinh năm 1965, Hiện bố, mẹ là lao động tự do ở xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Nguyễn Thị H - sinh năm 1992, hiện là lao động tự do ở xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022; A, chị, em ruột: Gia đình có 4 chị, em, bị cáo là con thứ tư.

    - Tiền án, tiền sự: Không;

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2023 đến ngày 03/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

  2. Họ và tên: Vũ Văn T1; sinh ngày 16/8/1988; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú, chỗ ở: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Vũ Văn G - sinh năm 1960; Mẹ: Nguyễn Thị P – sinh năm 1971, Hiện bố, mẹ là lao động tự do ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Đinh Thị Kiều T2 – sinh năm 1993, hiện là Lao động tự do ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 3 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017; Hiện ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Gia đình có 2 anh, em, bị cáo là con thứ nhất;

    - Tiền án, tiền sự: Không;

    - Nhân thân:

    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85 ngày 05/10/2014 của Công an thành phố V, xử phạt Vũ Văn T1 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Ngày 01/10/2014, T1 đã nộp tiền phạt.
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17 ngày 08/01/2019 của Công an thành phố V xử phạt Vũ Văn T1 2.000.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khoẻ người khác. Ngày 08/01/2019, T1 đã nộp tiền phạt.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến ngày 13/4/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại tại khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

  3. Họ và tên: Lưu Thị Ê; sinh ngày 27/3/1968; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú, chỗ ở: khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Lưu Văn T3 – Đã chết; Mẹ: Bùi Thị L – sinh năm 1933, hiện ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Chồng: Nguyễn Văn O, sinh năm 1965 (đã ly hôn); Con: Có 1 con, sinh năm 1990,; A, chị, em ruột: Gia đình có 09 chị, em, bị cáo là con thứ sáu; Tiền sự: không.

    - Tiền án: Bản án số 64/HS-ST ngày 15/6/2021, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Lưu Thị Ê 22.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 25/5/2021, Lưu Thị Ê nộp 200.000 đồng tiền án phí. Ngày 02/11/2023, Lưu Thị Ê nộp 22.000.000 đồng tiền phạt sung quỹ nhà nước, 5.030.000 đồng tiền tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2023 đến ngày 01/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

  4. Họ và tên: Trần Việt L1; sinh ngày 13/11/1978; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: khu D, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Trần Việt C – sinh năm 1953; Mẹ: Lưu Thị T4 – sinh năm 1955. Bố, mẹ hiện là lao động tự do ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Lê Thị L2, sinh năm 1980; Nghề nghệp: Lao động tự do; Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; Hiện vợ, con ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Gia đình có 2 Anh, em, bị cáo là con thứ nhất;

    - Tiền án, tiền sự: Không;

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/11/2023 đến ngày 09/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

  5. Họ và tên: Nguyễn Thị T5; sinh ngày 17/10/1974; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; N1 sinh: huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Xã M, huyện T, T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: khu H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Văn L3 – sinh năm 1945 (Đã chết); Mẹ: Phạm Thị M, hiện ở xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chồng: Nguyễn Văn T6, ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2008; Hiện chồng, con ở khu H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Gia đình có 4 Anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba;

    - Tiền án, tiền sự: Không;

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2023 đến ngày 03/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại khu H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 29/10/2023, Tổ công tác của phòng C1 Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang Lưu Thị Ê, sinh năm 1968, ở khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 7, gắn sim số 0378884031 gửi các tin nhắn số lô, số đề đến số điện thoại 0358.849.xxx của Nguyễn Văn N, sinh năm 1993 ở xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ với số tiền tương ứng là 13.210.000 đồng. Thu giữ của Ê: 01 điện thoại di động có đặc điểm như nêu trên.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu thị Ê1, không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N, thu giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 10 lite, màu vàng, số IMEI 1: 353676111628467, IMEI 2: 353677111628465, gắn sim số 0358849484.

Quá trình điều tra xác định: Do không có công việc ổn định, để có tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Văn N thoả thuận với các bị cáo và người chơi đánh bạc với nhau dưới hình thức gửi tin nhắn qua điện thoại di động. Một điểm lô tính 20.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được hưởng 70.000 đồng/1 điểm lô; Số lô trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số, số. Lô xiên thì có xiên 2 hoặc xiên 3, xiên 2 nếu trúng thì 10.000 đồng được tính là 100.000 đồng, xiên 3 nếu trúng thì 10.000 đồng được tính là 400.000 đồng. Lô xiên trúng thưởng được tính là trùng với 03 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số, số. Số đề trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng đề sẽ được hưởng gấp 70 lần số tiền đã đánh. 3 càng là 3 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng sẽ được hưởng gấp 400 lần số tiền đã đánh. Việc xác định trúng số lô, đề được căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng trong ngày để xác định thắng, thua. Sau khi có kết quả người chơi sẽ tự đối chiếu, thanh toán thắng thua. Hành vi của các bị cáo bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số, số tiền đánh bạc các bị cáo chưa thanh toán cho nhau, cụ thể như sau:

Ngày 29/10/2023, Nguyễn Văn N sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0358849484 nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0378.884.xxx của Lưu Thị Ê, sinh năm 1968, ở khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tương ứng với số tiền là 13.210.000 đồng, trong đó có 1.490.000 đồng là số tiền đánh bạc của Đỗ Đình T7, sinh năm 1966 ở phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhờ Êm ghi hộ cho T7. Số tiền đánh bạc T7 chưa trả cho Ê.

N nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0589.715.xxx của Nguyễn Thị T5, sinh năm 1978 ở khu H, phường N, T, tỉnh Phú Thọ, tương ứng với số tiền là 8.371.000 đồng.

N nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0375.952.xxx của Trần Việt L1, sinh năm 1978 ở khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tương ứng với số tiền là 13.940.000 đồng.

N nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0369.225.xxx và 0335423871 của Vũ Văn T1, sinh năm 1988, ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tương ứng với số tiền là 174.349.000 đồng.

Ngoài ra, Nguyễn Văn N khai trong ngày 29/10/2023 còn nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0333.248.xxx của người tên B tương ứng với số tiền là 6.480.000 đồng; nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0364.046.xxx của người tên H1 tương ứng với số tiền là 1.540.000 đồng; nhận tin nhắn số lô, số đề từ số điện thoại 0795.103.xxx của người tên H2 tương ứng với số tiền là 2.120.000 đồng.

Như vậy, ngày 29/10/2023, Nguyễn Văn N có hành vi nhận số lô, số đề của Lưu Thị Ê với số tiền 13.210.000 đồng, của Nguyễn Thị T5 với số tiền là 8.371.000 đồng, của Trần Việt L1 với số tiền là 13.940.000 đồng, của Vũ Văn T1 với số tiền là 174.349.000 đồng. Do vậy, N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 209.870.000 đồng; Lưu Thị Ê phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 13.210.000 đồng; Nguyễn Thị T5 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền 8.371.000 đồng; Trần Việt L1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 13.940.000 đồng; Vũ Văn T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 174.349.000 đồng.

Đối với số tiền đánh bạc với người tên B, H2, Hoàng như đã nêu trên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được người chơi trực tiếp với N nên không xác định đây là số tiền N trực tiếp đánh bạc với các đối tượng trên.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N, Lưu Thị Ê, Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1, Vũ Văn T1 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Vũ Văn T1 đã có thành tích ủng hộ Trạm y tế xã S, huyện T trong công tác phòng chống dịch Covid 19 trong năm 2020. Bị cáo Nguyễn Văn N được Ban chấp hành Hội chữ thập đỏ huyện T ghi nhận Tấm lòng vàng nhân đạo Ủng hộ phong trào Tết nhân ái xuân Giáp Thìn năm 2024. Các bị cáo đã nộp một phần số tiền đánh bạc: Vũ Văn T1 nộp số tiền 20.000.000 đồng, Lưu Thị Ê nộp số tiền 5.000.000 đồng, Nguyễn Thị T5 nộp số tiền 6.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ

Bị cáo Lưu Thị Ê đã bị kết án về tội Đánh bạc chưa được xoá án tích nên bị cáo Ê phải chịu 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm. Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1, Vũ Văn T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

* Động cơ, mục đích của hành vi phạm tội: Do hám lợi nên các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc.

* Vật chứng và tài sản thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 7, màu vàng, gắn sim số 0378884031. Số IMEI: 355846084394961, đã qua sử dụng (thu của Lưu Thị Ê);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note 10 lite màu vàng, gắn sim số 0358849484, số IMEI 1: 353676111628467, IMEI 2: 353677111628465 đã qua sử dụng (Thu của Nguyễn Văn N);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh, gắn sim số 0589715213, số IMEI 1: 353503961590532, IMEI 2: 354811671590539, đã qua sử dụng (Thu của Nguyễn Thị T5);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J7 Prime, màu đen, số IMEI 1: 357625083501315, IMEI 2: 357651083501311, không lắp sim, đã qua sử dụng (Thu của Trần Việt L1);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim số 0335423871 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6 Plus gắn sim số 0369225812; 01 chiếc máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio đã qua sử dụng; 01 quyển sổ vỏ bìa màu xanh bên trong có ghi nhiều chữ số; 01 bút mực màu xanh và 01 bút mực màu đỏ đã qua sử dụng (Thu của Vũ Văn T1).

* Về điều kiện kinh tế:

Lưu Thị Ê đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 61, tờ bản đồ số 49, diện tích 93,4m2 ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Văn N cùng vợ là Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 776, tờ bản đồ số 20 ở khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Trần Việt L1 đang sử dụng đất có nhà ở tại thửa đất số D350, diện tích 87,56m2 tại dự án khu nhà ở N, T, tỉnh Phú Thọ theo Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 197 ngày 29/72013 giữa công ty Cổ phần Đ1 với Trần Việt L1; Vũ Văn T1 hiện sinh sống trong ngôi nhà xây cấp 4 trên thửa đất số 02, tờ bản đồ số 44, diện tích 91,0m2 ở khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất và nhà thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Văn G và bà Nguyễn Thị P (là bố, mẹ đẻ của T1). Nguyễn Thị T5 không có tài sản là nhà, đất tại xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ và phường N, T, tỉnh Phú Thọ.

Cáo trạng số: 46/CT-VKSPT-P2 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Lưu Thị Ê, Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:

* Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1, Lưu Thị Ê, Trần Việt L1, Nguyễn Thị T5 phạm tội “Đánh bạc”.

Nguyễn Văn N: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- BLHS: Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N: 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vũ Văn T1: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- BLHS: Tuyên phạt: Bị cáo Vũ Văn T1: 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Lưu Thị Ê: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38- BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Thị Ê 7 tháng tù.

Trần Việt L1: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 – BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trần Việt L1 30.000.000 đồng.

Nguyễn Thị T5: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 – BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T5 25.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2,3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 7, màu vàng. Số IMEI1: 355846084394961, đã qua sử dụng của Lưu Thị Ê; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note 10 lite màu vàng, số IMEI 1: 353676111628467, IMEI 2: 353677111628465 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh, số IMEI 1: 353503961590532, IMEI 2: 354811671590539, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J7 Prime, màu đen, số IMEI 1: 357625083501315, IMEI 2: 357651083501311, không lắp sim, đã qua sử dụng của Trần Việt L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6 Plus của Vũ Văn T1 – là điện thoại các đối tượng sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước;

Tịch thu 01 sim điện thoại số 0378.884.xxx của Lưu Thị Ê. 01 sim điện thoại số 0358.849.xxx của Nguyễn Văn N. 01 sim điện thoại số 0589.715.xxx của Nguyễn Thị T5. 01 sim điện thoại số 0335.423.xxx và 01 sim điện thoại số 0369.225.xxx; 01 quyển sổ vỏ bìa màu xanh bên trong có ghi nhiều chữ số; 01 bút mực màu xanh và 01 bút mực màu đỏ đã qua sử dụng của Vũ Văn T1 – để tiêu huỷ;

Tịch thu số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước:

  • - Bị cáo Vũ Văn T1 số tiền 174.349.000 đồng;
  • - Bị cáo Lưu Thị Ê số tiền 13.210.000 đồng
  • - Bị cáo Trần Việt L1 số tiền 13.940.000 đồng
  • - Bị cáo Nguyễn Thị T5 số tiền 8.371.000 đồng

Tạm giữ số tiền 40.000.000 đồng do bị cáo Vũ Văn T1 đã tự nguyện nộp; tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Thị T5 đã tự nguyện nộp; tạm giữ số tiền 13.410.000 đồng do bị cáo Lưu Thị Ê; tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo Trần Việt L1 đã tự nguyện nộp để đảm bảo việc thi hành án;

Trả lại cho Vũ Văn T1: 01 chiếc máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio đã qua sử dụng; (Thu của Vũ Văn T1) – không liên quan đến tội phạm.

* Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1, Lưu Thị Ê, Trần Việt L1, Nguyễn Thị T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận:

Ngày 29/10/2023, bị cáo Nguyễn Văn N có hành vi đánh bạc với tổng số tiền là 209.870.000 đồng bằng hình thức mua, bán số lô, số đề gửi qua tin nhắn điện thoại di động với các bị cáo Ê, T5, L1, T1. Trong đó, số tiền đánh bạc của Lưu Thị Ê là 13.210.000 đồng, Nguyễn Thị T5 là 8.371.000 đồng, Trần Việt L1 là 13.940.000 đồng, Vũ Văn T1 là 174.349.000 đồng. Số tiền đánh bạc các bị cáo chưa thanh toán cho nhau và bị phát hiện bắt giữ trước khi có kết quả sổ xố.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai các bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lưu Thị Ê, Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, trong đó bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo Lưu Thị Ê, Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật để nhận thức được hành vi sát phạt bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Nhưng vì mục đích không phải lao động vất vả mà vẫn có tiền tiêu sài, các bị cáo đã coi thường pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn N là người giữ vai trò chính, trực tiếp đánh bạc bằng hình thức ghi số lô số đề với các bị cáo Lưu Thị Ê, Nguyễn Thị T5, Trần Việt L1. Trên thực tế, N với các bị cáo đã thỏa thuận số lô, số đề và số tiền chơi xong mặc dù N mới nhận các tin nhắn có số lô, số đề mà chưa được nhận tiền từ các bị cáo khác, nhưng N vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số tiền các bị cáo đánh bạc với N. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Tại cơ quan điều tra, N đã đầu thú về hành vi đánh bạc với các bị cáo T1, L1, T5. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo Nguyễn Văn N đã Ủng hộ phong trào Tết nhân ái xuân Giáp Thìn năm 2024 được Ban chấp hành Hội chữ thập đỏ huyện T ghi nhận Tấm lòng vàng nhân đạo. Bên cạnh đó, bị cáo có xác nhận của địa phương về việc được ủy quyền thờ cúng chú ruột chưa có con là liệt sỹ Vũ Ngọc T8 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà quyết định hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Vũ Văn T1, thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền 174.349.000 đồng. Về nhân thân, T1 đã 02 lần bị xử phạt hành chính, tuy nhiên, đến nay không bị tính là tiền sự theo quy định của pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong thời gian bị cáo sinh sống tại địa phương, bị cáo T1 đã có thành tích ủng hộ Trạm y tế xã S, huyện T trong công tác phòng chống dịch Covid 19 năm 2020 và quá trình điều tra, trước khi xét xử đã tự nguyện nộp số tiền 40.000.000 đồng bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo có ông ngoại của vợ có công với cách mạng được chủ tịch nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội để quyết định hình phạt tù có điều kiện cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Lưu Thị Ê tham gia đánh bạc với số tiền 13.210.000 đồng. Mặc dù số tiền tham gia đánh bạc không lớn. Xong, xét thấy bị cáo đã có tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự nguyện nộp toàn bộ số tiền phải có nghĩa vụ thi hành án theo bản án trước và tự nguyện nộp toàn bộ số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc lần này, tiền án phí hình sự sơ thẩm nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử cũng về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà tiếp tục phạm tội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo thành người lương thiện.

Đối với bị cáo Trần Việt L1 đánh bạc với số tiền 13.940.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị T5 đánh bạc với số tiền 8.371.000 đồng, Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Trần Việt L1 và bị cáo Nguyễn Thị T5 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, ra đầu thú, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mặt khác, bị cáo L1 đã tích cực tự nguyện nộp 5.000.000 đồng tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, bị cáo T5 tự nguyện nộp số tiền 6.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Riêng bị cáo L1 có bố đẻ là thương binh, là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy không cần cách ly các bị cáo L1, T5 ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

+ Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng là phù hợp pháp luật.

[3] Về vật chứng:

Đối với tổng số tiền 209.870.000 đồng là tiền các bị cáo Ê, T5, L1, T1 đánh bạc với Nguyễn Văn N dưới hình thức mua, bán số lô, số đề. Xét thấy, đây là tiền dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình đánh bạc, N chưa được nhận tiền của từng bị cáo. Do vậy, các bị cáo phải có nghĩa vụ nộp để sung ngân sách nhà nước số tiền sử dụng của từng bị cáo đã sử dụng đánh bạc với N số tiền cụ thể như sau: bị cáo Lưu Thị Ê số tiền 13.210.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị T5 số tiền 8.371.000 đồng, bị cáo Trần Việt L1 số tiền 13.940.000 đồng, bị cáo Vũ Văn T1 số tiền 174.349.000 đồng. Trong quá trình điều tra, và trước khi xét xử, các bị cáo đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền đánh bạc, cần xác nhận bị cáo Vũ Văn T1 đã nộp số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo Lưu Thị Ê đã nộp số tiền 13.210.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thị T5 đã nộp số tiền 6.000.000 đồng; bị cáo Trần Việt L1 đã nộp 5.000.000 đồng. Các bị cáo phải tiếp tục nộp để tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền còn lại.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 7, màu vàng, gắn sim số 0378884031. Số IMEI1: 355846084394961, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lưu Thị Ê; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note 10 lite màu vàng, gắn sim số 0358849484, số IMEI 1: 353676111628467, IMEI 2: 353677111628465 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh, gắn sim số 0589715213, số IMEI 1: 353503961590532, IMEI 2: 354811671590539, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J7 Prime, màu đen, số IMEI 1: 357625083501315, IMEI 2: 357651083501311, không lắp sim, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trần Việt L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim số 0335423871 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6 Plus gắn sim số 0369225812; có đủ cơ sở xác định đều là phương tiện công cụ để các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, Trong đó có 06 điện thoại, là vật chứng của vụ án còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với các sim điện thoại có số 0378.884.xxx, số 0358849484, số 0589715213, số 0335423871, số 0369225812 đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án đến nay không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 quyển sổ vỏ bìa màu xanh bên trong có ghi nhiều chữ số; 01 bút mực màu xanh và 01 bút mực màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vũ Văn T1 trong quá trình điều tra đến nay xác định không liên quan đến vụ án, bị cáo T1 không đề nghị xin lại, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu thu tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T1 01 chiếc máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio đã qua sử dụng, không liên quan đến vụ án.

[4] Đề nghị của Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 321; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lưu Thị Ê.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1, 3 Điều 35; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Việt L1, Nguyễn Thị T5.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 47 BLHS: Điểm a, b Khoản 2, Đ a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

[2] Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1, Lưu Thị Ê, Trần Việt L1, Nguyễn Thị T5 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn T1 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hành sự

Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1 được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Lưu Thị Ê 07 (bảy) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/10/2023 đến ngày 01/11/2023. Thời hạn tù còn lại được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Việt L1 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T5 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

[3] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền dùng vào việc phạm tội của các bị cáo sau:

  • - Bị cáo Lưu Thị Ê số tiền 13.210.000 đồng, xác nhận bị cáo Ê đã nộp đủ 13.210.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000326 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ và biên lai thu tiền số 0000429 ngày 25/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị cáo Nguyễn Thị T5 số tiền 8.371.000 đồng, xác nhận bị cáo T5 đã nộp số tiền 6.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000325 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị cáo Trần Việt L1 số tiền 13.940.000 đồng, xác nhận bị cáo L1 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000428 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ
  • - Bị cáo Vũ Văn T1 số tiền 174.349.000 đồng, xác nhận bị cáo T1 đã nộp số tiền 40.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004645 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và biên lai thu tiền số 0004648 ngày 20/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Số tiền còn lại các bị cáo phải tiếp tục nộp để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Tịch thu vật chứng của vụ án còn giá trị sử dụng để sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Lưu Thị Ê 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 7, màu vàng, Số IMEI1: 355846084394961; của bị cáo Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note 10 lite màu vàng, số IMEI 1: 353676111628467, IMEI 2: 353677111628465; của bị cáo Nguyễn Thị T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh, số IMEI 1: 353503961590532, IMEI 2: 354811671590539; của bị cáo Trần Việt L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J7 Prime, màu đen, số IMEI 1: 357625083501315, IMEI 2: 357651083501311; của bị cáo Vũ Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6 Plus;

Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T1 01 chiếc máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio đã qua sử dụng,

Tịch thu tiêu hủy của bị cáo Vũ Văn T1 01 quyển sổ vỏ bìa màu xanh bên trong có ghi nhiều chữ số, 01 bút mực màu xanh, 01 bút mực màu đỏ, sim điện thoại số 0335.423.xxx, sim số điện thoại số 0369.225.xxx; của bị cáo Lưu Thị Ê sim điện thoại số 0378.884.xxx; của bị cáo Nguyễn Thị T5 sim điện thoại số 0589.715.xxx; của bị cáo Nguyễn Văn N sim điện thoại số 0358.849.xxx, đều đã qua sử dụng đến nay không còn giá trị sử dụng.

[4] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Vũ Văn T1, Lưu Thị Ê, Trần Việt L1, Nguyễn Thị T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo Lưu Thị Ê đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000429 ngày 25/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng PC01, PV06-CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - THA Hình sự;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Hương

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger