Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Thanh
  2. Ông Hồ Thanh Trí

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Nhà Văn hóa xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

- Đặng Hoàng D, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1992, địa chỉ cư trú: Số C, ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T1, sinh năm 1965 và bà Võ Thị Út T2, sinh năm 1963; Bị cáo chưa có vợ, con; có 01 người anh trai sinh năm 1990; tiền án: Không có; Tiền sự: không có; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 3 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Võ Trọng N, địa chỉ: Khu V, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

Phạm Hoàng N1, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đặng Trung T3, địa chỉ: Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Bá T4, Trần Minh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Hoàng D mở đại lý thức ăn gia súc T5 và nuôi heo tại ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Sau một thời gian thì công việc làm ăn bị thua lỗ, bị thiếu nợ nhiều người. Vào đầu tháng 5/2023, D biết anh Võ Trọng N đang tìm mua heo thịt về bán, đồng thời do thường xuyên giao thức ăn tại nhà ông Nguyễn Bá T4 và ông Trần Minh L nên biết được ông T4 và ông L có heo thịt sắp xuất chuồng nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng cách nói dối là heo của ông T4 và ông L là heo của D để ông N đặt cọc mua heo.

Ngày 06/5/2023, D điện thoại cho anh Võ Trọng N nói D có 39 con heo tơ và 02 con heo nái cần bán và hẹn anh Trọng N đến xem heo. Anh Trọng N đồng ý mua nên đã nhờ người chuyển khoản trước cho D 10.000.000 đồng thông qua tài khoản ngân hàng A, số tài khoản 07011356868 tên Đặng Hoàng D để đặt cọc. Sau khi đặt cọc xong, ông Võ Trọng N liên hệ với ông Phạm Hoàng N1 vì trước đó ông Hoàng N1 nhờ ông Trọng N tìm chỗ mua heo giùm. Đến khoảng 15 giờ ngày 06/5/2023, ông Phạm Hoàng N1 đến nhà D để xem heo như đã hẹn. Dủ lợi dụng lúc ông Nguyễn Bá T4 không có nhà nên D dẫn ông Phạm Hoàng N1 đến chuồng heo của ông T4 xem heo; đối với ông L, trước đó để thuận lợi cho việc thực hiện hành vi, D nói với ông L sẽ mua 22 con heo của ông L nên dễ dàng dẫn ông Hoàng N1 đến xem heo. Sau khi xem heo, ông Hoàng N1 đồng ý mua, D yêu cầu đặt cọc 60.000.000 đồng thì ông N1 đồng ý giao 60.000.000 đồng tiền mặt cho D. Đến ngày 08/5/2023, ông Hoàng N1 đến đại lý thức ăn T5 đặt cọc thêm 30.000.000 đồng và hẹn ngày 12/5/2023 sẽ đến bắt heo. Tại đây, D viết biên nhận số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng cho ông Phạm Hoàng N1. Như đã hẹn, ngày 12/5/2023, ông Hoàng N1 đến đại lý thức ăn T5 thì không liên lạc được với D nên ông Hoàng N1 đã đi đến chuồng heo nhà ông T4 và ông L đòi bắt heo thì thì được biết heo không phải của D, việc D nhận tiền cọc của ông N1 thì ông T4, ông L không biết và không đồng ý cho bắt heo. Ông Hoàng N1 nhiều lần liên hệ và đến đại lý thức ăn T5 tìm D nhưng không gặp được nên ngày 15/5/2023 ông Phạm Hoàng N1 đến Công an xã T trình báo sự việc. Đối với Đặng Hoàng D, sau khi lấy được tiền của ông N1, D đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã ra thông báo truy tìm đối với Đặng Hoàng D. Đến ngày 04/3/2024, Đặng Hoàng D bị Công an xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ phát hiện, bắt và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-HCTA ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Đặng Hoàng D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng D đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Đặng Hoàng D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng D từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 04 tháng 3 năm 2024.

Vật chứng trong vụ án:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu trắng đỏ, biển số kiểm soát 67B2-366.74, đề nghị Hội đồng xét xử giao trả xe lại cho bị cáo D.

Đối với số tiền 7.450.000 đồng là tiền của bị cáo D, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành phần trách nhiệm dân sự của bị cáo trong vụ án này.

Đối với điện thoại di động màu đen, không rõ nhãn hiệu là của Đặng Hoàng D, nên đề nghị trả lại cho bị cáo D.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Hoàng N1 yêu cầu bị cáo Đặng Hoàng D bồi thường 90.000.000 đồng; Anh Võ Trọng N yêu cầu D trả lại số tiền 10.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Phạm Hoàng N1 90.000.000đồng và bồi thường cho anh Võ Trọng N 10.000.000đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Ý kiến tranh luận của bị cáo và bị hại: Bị cáo Đặng Hoàng D và bị hại Phạm Hoàng N1 không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Đặng Hoàng D nói lời nói sau cùng: Bị cáo trong thời gian tạm giam đã biết lỗi lầm của mình, rất ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về làm lại cuộc đời, chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị hại Võ Trọng N và những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người này.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Hoàng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, chứng minh được như sau:

Do làm ăn thua lỗ và khi biết được ông Phạm Hoàng N1, ông Võ Trọng N mua heo về bán lại nên D đã nói dối với ông Hoàng N1 và ông Trọng N về việc có 39 con heo tơ, 02 con heo nái cần bán và yêu cầu nhận tiền cọc trước. Trong khoảng thời gian từ ngày 06/5/2023 đến ngày 08/5/2023, tại ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, bị cáo Đặng Hoàng D nhiều lần nhận tiền đặt cọc từ ông Võ Trọng N và ông Phạm Hoàng N1. Cụ thể ngày 06/5/2023 nhận đặt cọc của ông Võ Trọng N 10.000.000 đồng, nhận đặt cọc của ông Phạm Hoàng N1 60.000.000 đồng; ngày 08/5/2023, tiếp tục nhận đặt cọc của ông Phạm Hoàng N1 30.000.000 đồng, tổng số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền D bỏ trốn khỏi địa phương và tiêu xài cá nhân hết số tiền chiếm đoạt. Hành vi này của bị cáo Đặng Hoàng D là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác. Bị cáo D là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Đặng Hoàng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo D đầu tiên nói chuyện với anh Võ Trọng N và nhận tiền cọc của anh N 10.000.000đồng, sau đó gặp anh Phạm Hoàng N1 nhận thêm 60.000.000đồng, cuối cùng D nói với anh N1 về việc D đang cần tiền và trước sau gì anh N1 cũng trả tiền mua heo nên yêu cầu anh Hoàng N1 giao thêm 30.000.000đồng, được anh N1 đồng ý. Các lần nhận tiền cọc đều đủ định lượng cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Hội đồng xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp từ hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D trong suốt quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải đây được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Từ những cơ sở trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ đánh giá toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, mức độ thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn, hối cải, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo trong vụ án mà có mức hình phạt thích hợp, đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nhưng vẫn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại Võ Trọng N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đặt cọc 10.000.000đồng, bị hại Phạm Hoàng N1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đặt cọc 90.000.000đồng và yêu cầu bị cáo trả lãi theo lãi suất của nhà nước. Tại phiên toà, bị hại Phạm Hoàng N1 xác định chỉ yêu cầu bị cáo trả lại 90.000.000đồng, không yêu cầu bị cáo trả tiền lãi. Bị cáo đồng ý trả lại cho bị hại Võ Trọng N 10.000.000đồng và bị hại Phạm Hoàng N1 90.000.000đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[2.4] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu trắng đỏ, biển số kiểm soát 67B2-366.74 là của Đặng Hoàng D mua lại của người khác để sử dụng nhưng chưa sang tên trong giấy đăng ký xe. Qua làm việc với anh Đặng Trung T3 xác định xe mô tô nói trên do anh đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, đến đầu năm 2020 anh đã bán cho người khác nhưng không có làm hợp đồng mua bán và chưa thực hiện sang tên trên giấy đăng ký xe. Hiện anh không có tranh chấp gì đối với xe mô tô nói trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao trả xe lại cho bị cáo D. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu đối với xe này sẽ giải quyết thành vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

Đối với số tiền 7.450.000 đồng là tiền của bị cáo D, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành phần trách nhiệm dân sự của bị cáo trong vụ án này.

Đối với điện thoại di động màu đen, không rõ nhãn hiệu là của Đặng Hoàng D, không liên quan hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo D.

[2.5] Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo D phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

Án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo D phải chịu: 5% x 100.000.000đồng = 5.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hoàng D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng D 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 04 tháng 3 năm 2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Hoàng D 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 28 tháng 6 năm 2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng D 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu trắng, đỏ, biển số kiểm soát 67B2-366.74 và 01 (một) điện thoại di động màu đen không rõ nhãn hiệu.

    Tiếp tục tạm giữ số tiền Việt Nam: 7.450.000đồng (bảy triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) để đảm bảo cho việc thi hành phần trách nhiệm dân sự của bị cáo trong bản án này.

  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đặng Hoàng D trả lại cho bị hại Võ Trọng N số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng), trả lại cho bị hại Phạm Hoàng N1 90.000.000đồng (chín mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bị hại Võ Trọng N, Phạm Hoàng N1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Đặng Hoàng D chậm trả số tiền nêu trên thì bị cáo Đặng Hoàng D còn phải trả cho bị hại Võ Trọng N, Phạm Hoàng N1 số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 , Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Hoàng D phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đồng (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Hoàng D, bị hại Phạm Hoàng N1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Võ Trọng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành A;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Chúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo có tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger