|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 26 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thiệu; Bà Bùi Thị Dung.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Hường - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên toà: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn K, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1965 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/10; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Bùi Văn N (Đã chết) và bà Bùi Thị D, sinh năm 1937; bị cáo là con thứ bốn trong gia đình có 08 anh em; Vợ: Bùi Thị D1, sinh năm 1966, trú tại xóm B, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến nay. Có mặt.
- Người bị hại: anh Quách Phúc K1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chức vụ: Phó trưởng công an xã V, huyện L. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Bùi Thị D2, sinh năm 1968; Trú tại: xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Người làm chứng: anh Bùi Văn C, sinh năm 1987. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diện biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 03/05/2024, Công an xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình nhận được tin báo của bà Bùi Thị D2 về việc ruộng lúa của nhà mình bị hủy hoại, bà D2 nghi là do Bùi Văn K gây ra nên báo cáo cho Công an xã V để tiến hành xác minh và phòng ngừa. Sau khi nhận được thông tin, Trưởng Công an xã V đã cử Thiếu tá Quách Phúc K1 - Phó trưởng Công an xã và anh Bùi Văn C - Công an viên bán chuyên trách đến nhà mời Bùi Văn K đến trụ sở Công an xã làm việc. Sau khi xây dựng kế hoạch xác minh tin báo và được Trưởng công an xã V phê duyệt, khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, thiếu tá Quách Phúc K1 cùng anh Bùi Văn C đến nhà Bùi Văn K nhưng không ai ở nhà. Khi anh K1 quay ra đoạn đường gần cổng nhà Bùi Văn K thì gặp Bùi Văn K tại đường liên xóm T - T. Sau khi được Tổ công tác mời lên Công an xã làm việc Bùi Văn K bảo đi về nhà để khóa cửa, lấy xe, sau đó Bùi Văn K cùng thiếu tá Quách Phúc K1 và anh Bùi Văn C đi về nhà K. Khi về đến nhà K, tại khu vực trước cửa ra vào phía bên phải nhà, Bùi Văn K bảo Tổ công tác chờ bên ngoài, để Bùi Văn K vào bên trong thay quần áo, rồi lấy bơm để bơm xe. Sau đó Bùi Văn K mở hé một cánh cửa lách vào bên trong, anh Quách Phúc K1 đứng ngay phía trước cửa, hướng mặt về phía nhà K, cách cửa ra vào khoảng 1,20 mét, Bùi Văn C đứng phía sau Quách Phúc K1 cách khoảng 01 mét. Bùi Văn K sau khi vào bên trong nhà đã lấy 01 con dao dạng dao mũi nhọn dài 37,5cm gắn cố định vào một đoạn gỗ dài 1,55 mét, để trong gầm giường ngay cạnh cửa ra vào, rồi đi về phía cửa, Bùi Văn K cầm dao trên tay trái, khi cửa đang hé mở Bùi Văn K lao ra dùng dao mũi nhọn trên đâm thẳng về phía trước anh Quách Phúc K1 để gây thương tích. Hậu quả anh Quách Phúc K1 bị đâm trúng phía trước đùi bên phải. Sau đó Bùi Văn K chạy ra ngoài tiếp tục đuổi đánh anh Quách Phúc K1, tuy nhiên anh Quách Phúc K1 kịp thời bỏ chạy ra khỏi nhà K. Sau khi đuổi đánh anh Quách Phúc K1, Bùi Văn K cầm dao quay lại tiếp tục đuổi đánh anh Bùi Văn C thì anh C bỏ chạy được khỏi nhà K và đưa anh Quách Phúc K1 đi cấp cứu. Bùi Văn K mang dao vào khu vực bể nước gia đình rửa sạch máu rồi bỏ trốn lên đồi phía sau nhà. Sau khi nhận được báo cáo về vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp, đồng thời tổ chức lực lượng, phối hợp với chính quyền địa phương tiền hành truy tìm, vây bắt đối tượng Bùi Văn K, đến 12 giờ 30 cùng ngày Bùi Văn K bị bắt khẩn cấp và tạm giữ theo quy định của pháp luật.
Sau khi bị gây thương tích, anh Quách Phúc K1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 106/KLTTCT-TTPY ngày 06/05/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quách Phúc K1 tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm). Đặc điểm gây thương tích: Vật sắc nhọn.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 01 (một) chiếc quần dài màu xanh, loại quần được ngành Công an cấp, có 01 vết rách vải hình dạng không xác định, kích thước (06x01)cm, đầu vết rách cách 15cm dưới trước cạp quần, cuối vết rách cách 10cm trên trước đường chỉ ngoài ống quần phải, được niêm phong theo quy định.
- - 01 (một) hung khí tự chế gồm: một đoạn gỗ hình trụ tròn, dài 1,55 mét, đầu to có đường kính 4,5cm, đầu nhỏ có đường kính 4cm, tại phần đầu nhỏ của đoạn gỗ có gắn một con dao mũi nhọn, phần chuôi dao được gắn vào bên trong đoạn gỗ, phần khâu dao và lưỡi dao thò ra khỏi đoạn gỗ dài 37,5cm, tại vị trí gắn dao có buộc dây thép vào đoạn gỗ, phần rộng nhất lưỡi dao 4,5cm, được niêm phong theo quy định.
Vật chứng được chuyển sang Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn để bảo quản theo quy định.
Về dân sự: anh Quách Phúc K1 không yêu cầu Bùi Văn K bồi thường.
Theo bản cáo trạng số: 41/CT-VKS-TT ngày 29/7/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn K cho rằng do phòng vệ nên mới giơ dao về phía trước, không chủ ý gấy thương tích cho người khác, còn vết thương của anh Quách Phúc K1 bị cáo không biết do đâu mà có.
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm từ quá trình điều tra, không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a, i, k khoản 1 Điều 134; Điều 38; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 21 đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy hung khí bị cáo dùng vào việc phạm tội và chiếc quần của bị hại do không còn giá trị sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị hại Quách Phúc K1 không bổ sung lời luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn K không thành khẩn khai báo, không thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo do bị cáo không gây thương tích cho bị hại. Tuy nhiên bị cáo không đưa ra ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện Kiểm sát, không đưa ra minh chứng chứng minh cho quan điểm của mình. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: bị cáo Bùi Văn K không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng các chứng cứ khác như: Kết luận của Trung tâm giám định pháp y tỉnh H, lời khai của người làm chứng, người bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 03/5/2024 tại xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, khi lực lượng công an xã, đại diện là anh Quách Phúc K1 đang thực hiện việc báo gọi công dân lên trụ sở Công an xã để giải quyết tin báo về hành vi hủy hoại tài sản, Bùi Văn K đã có hành vi lợi dụng lúc mình ở phía trong nhà còn công an xã đang đứng ngoài cửa không thể quan sát phía trong nên đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) con dao chém về phía lực lượng công an và gây thương tích cho đồng chí Thiếu tá Quách Phúc K1. Hậu quả: Quách Phúc K1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm). Tại phiên tòa bị cáo cho rằng do lo sợ bị lực lượng công an đánh nên mới giơ dao về phía họ để tự vệ. Nhưng cũng theo lời của bị cáo thì chỉ là bị cáo “sợ” bị đánh chứ trên thực tế các đồng chí đang thực hiện nhiệm vụ chưa có bất cứ hành vi nào tác động đến thân thể bị cáo. Tại các bản tự khai và lấy lời khai ban đầu bị cáo thừa nhận sau khi vào nhà đã có ý định gây thương tích cho công an nên đã lấy dao tự chế đưa về phía công an để chống trả, giơ dao ngang tầm ngực nhưng chỉ trúng phần đùi của anh Quách Phúc K1 là do anh K1 phát hiện hành vi nên lấy tay gạt dao xuống phía dưới. Sau khi gây thương tích cho anh K1 thì bị cáo còn cố tình đuổi theo anh K1 và anh C1, sau đó bình tĩnh đi rửa dao sạch vết máu và trốn lên rừng. Điều đó chứng tỏ bị cáo ý thức rất rõ về hành vi sai trái của mình. Tại các bản khai sau này bị cáo mới cho rằng hành động của mình chỉ là tự vệ, nhưng bị báo không đưa ra được căn cứ chứng minh cho lời khai của mình.
Bùi Văn K là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn K phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, yêu cầu của người bị hại và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đối với bị cáo Bùi Văn K về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Đặc biệt là đối với lực lượng Công an nhân dân, luôn làm việc để đảm bảo trật tự, trị an, mang lại bình yên cho đất nước người dân và. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích đối với người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Chính từ ý thức và việc làm sai trái gây ra những đau đớn về thể xác cho bị hại, gây tốn kém về tiền bạc cho việc điều trị, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm và gây thương tích đối với người đang thực hiện nhiệm vụ, thể hiện sự hung hãn, manh động, bất chấp lý do, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, bị cáo thừa nhận tại các bản khai ban đầu là giơ dao ngang tầm ngực về phía anh K1 để đâm, nhưng do anh K1 gạt dao xuống dưới nên bị thương ở vùng đùi là ngoài dự liệu của bị cáo, sau khi gây thương tích cho anh K1 bị cáo còn bình tĩnh đi rửa vết máu trên dao sau đó bỏ trốn lên rừng, gây khó khăn cho lực lượng chức năng vây bắt nên Bùi Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a, i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần phải xử lý bị cáo tương ứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên theo trình bày của bà D2 và công an xã thì từ năm 2018 Bùi Văn K đã có hành vi phun thuốc diệt cỏ vào ruộng lúa của nhà bà D2, đến năm 2022 tiếp tục thực hiện hành vi này, được hòa giải tại Công an xã V, Bùi Văn K đã thừa nhận và phải bồi thường cho bà D2 số tiền 1.000.000đ.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình mặc dù đã được HĐXX giải thích về các tình tết giảm nhẹ, nhưng bị cáo vẫn cố tình quanh co, chối tội. Do đó bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với hành vi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại chưa có đề nghị nên HĐXX không xem xét. Vấn đề này sẽ được giải quyết bằng vụ án khác nếu bị hại có yêu cầu.
Về vấn đề Bùi Văn K phun thuốc diệt cỏ vào ruộng của bà Bùi Thị D2 do bà D2 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[8] Về vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS vật chứng đã thu giữ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điểm a, i, k khoản 1 Điều 134; Điều 38; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
-
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 03/5/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) chiếc quần dài màu xanh, loại quần được ngành Công an cấp, có 01 vết rách vải hình dạng không xác định, kích thước (06x01)cm, đầu vết rách cách 15cm dưới trước cạp quần, cuối vết rách cách 10cm trên trước đường chỉ ngoài ống quần phải, được niêm phong theo quy định.
- - 01 (một) hung khí tự chế gồm: một đoạn gỗ hình trụ tròn, dài 1,55 mét, đầu to có đường kính 4,5cm, đầu nhỏ có đường kính 4cm, tại phần đầu nhỏ của đoạn gỗ có gắn một con dao mũi nhọn, phần chuôi dao được gắn vào bên trong đoạn gỗ, phần khâu dao và lưỡi dao thò ra khỏi đoạn gỗ dài 37,5cm, tại vị trí gắn dao có buộc dây thép vào đoạn gỗ, phần rộng nhất lưỡi dao 4,5cm, được niêm phong theo quy định.
Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Văn K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoa |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Kh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
