|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân, bà Nguyễn Thị Băng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Nhà văn hóa phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 16-5-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 06-6-2024, đối với bị cáo:
Lương Văn D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 11 năm 1976 tại tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKTT: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; tạm trú: Tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: Tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái và thôn Xóm Soi, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lương Xuân H, sinh năm 1952 (đã chết); con bà: Lê Thị C, sinh năm: 1952; vợ: Phạm Thị C1, sinh năm: 1986 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: 01. Năm 2020, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng tại Quyết định số 11/2020/QĐ-TA ngày 14-9-2020 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; nhân thân: Năm 1994, bị Công an thị xã Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản của công dân” tại Quyết định số 61 ngày 15-6-1994. Năm 1998, bị Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 42 ngày 29-10-1998. Năm 2008, bị Chủ tịch UBND thành phố Y, tỉnh Yên Bái ra Quyết định về việc đưa người vào Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Y thời gian 24 tháng tại Quyết định số 2119/QĐ-UBND ngày 08-12-2008 và bị Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 156/QĐ-XPHC ngày 10-9-2008. Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép cất ma túy” tại Bản án số 64/2009/HSST ngày 27-5-2009. Năm 2013, bị Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 204/QĐ-XPVPHC ngày 01-11-2013 và Quyết định số 170/Q-XPVPHC ngày 27-8-2013. Bị cáo bị tạm giữ ngày 29-02-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y. Có mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Văn C2; sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ D, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Tiến V sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- - Chị Lê Thị H1; sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Văn D là đối tượng nghiện ma túy (heroine). Để có ma túy sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời, sáng ngày 27-02-2024, Lương Văn D ra khu vực dân cư phía sau chợ thành phố Y thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Báitìm mua heroine. Tại đây, Dmua được 02 gói heroine của một người phụ nữ (D không biết tên, tuổi, địa chỉ) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được heroine, D mang về nhà trọ tại thôn X, xã G, thành phố Y chia heroine thành 16 gói nhỏ, được gói bằng các mảnh giấy bạc. Sau khi chia, D cho số heroine này vào 02 túi nilon màu trắng, có khoá kẹp, viền màu đỏ, cất giấu vào chiếc găng tay vải màu xanh - đen có chữ B màu trắng để trên ghế trong phòng ngủ của D Sau đó, D lấy 01 gói nhỏ, sử dụng 01 phần, phần còn lại của gói ma túy này D để ở ngăn kéo bàn kê tại phòng ngủ.
Khoảng hơn 07 giờ ngày 29-02-2024, Nguyễn Văn C2 và Nguyễn Tiến V(đều là những người nghiện chất ma tuý, loại heroine) gặp nhau. Do có nhu cầu sử dụng trái phép heroine nên C2 và V đã rủ nhau góp mỗi người 200.000 đồng mua heroine để sử dụng, C2 là người cầm tiền. Sau đó, C2 và V cùng nhau đi đến nhà Lương Văn D hỏi mua heroine. Khi đến nhà DV đứng ở khu vực cửa ra vào, còn C2 vào gặp D tại khu vực phòng khách nhà D Tại đây, C2 đã hỏi mua của D 02 gói heroine, D đồng ý bán với giá 200.000 đồng/01 gói, C2đưa cho D400.000 đồng. D cầm tiền và đưa cho C2 02 gói heroine đều được gói trong giấy bạc màu vàng. Sau khi mua được heroine, C2 và V cầm về khu vực T, thuộc tổ dân phố C, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái để sử dụng riêng cho bản thân. Khi C2 và V vừa sử dụng trái phép chất ma túy xong thì bị Công an thành phố Y phát hiện, kiểm tra. Tổ công tác đã lập biên bản kiểm tra và thu giữ vật chứng có liên quan gồm: 02 xilanh nhựa loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 02 vỏ túi nilon đựng xilanh, 02 vỏ ống nước cất NOVOCAIN đã qua sử dụng và 02 mảnh giấy bạc màu vàng. C2 và V khai nhận số ma túy vừa có để sử dụng là mua của D
Căn cứ tài liệu điều tra, xác minh, cùng ngày 29-02-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Lương Văn D ở thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái Quá trình khám xét, Lương Văn Dđã tự giác giao nộp 01 chiếc găng tay để tại chiếc ghế, kê gần giường ngủ, trong găng tay có 02 túi nilon màu trắng, có khóa kẹp, viền màu đỏ, bên trong có 13 gói chứa chất bột nén màu trắng được gói bằng giấy bạc. Thu giữ tại ngăn kéo chiếc bàn kê tại phòng ngủ 01 gói chất bột nén màu trắng được gói bằng giấy bạc. D khai nhận toàn bộ 14 gói chứa chất bột nén màu trắng trên là ma túy, loại heroine. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của D 01 chiếc điện thoại di động màu đen, kiểu phím bấm, có chữ M và số tiền 780.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 147/KL-KTHS ngày 07-3-2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- - Chất bột nén màu trắng do Lương Văn D tự giác giao nộp trong túi nilon màu trắng thứ nhất có tổng khối lượng 0,65 gam. 0,15 gam trích từ 0,65 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại heroine.
- - Chất bột nén màu trắng do Lương Văn Dtự giác giao nộp trong túi nilon màu trắng thứ hai có tổng khối lượng 0,31 gam. 0,11 gam trích từ 0,31 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại heroine.
- - Chất bột nén màu trắng thu giữ tại ngăn kéo bàn kê tại phòng ngủ, cạnh chiếc giường có khối lượng 0,02 gam. 0,02 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại heroine.
Cáo trạng số 40/CT-VKSTP ngày 16-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Lương Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố Lương Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn D từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 0,7 gam ma túy, loại heroine; 02 xilanh nhựa, 02 vỏ túi nilon đựng xilanh, 02 vỏ ống nước cất NOVOCAIN đã qua sử dụng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn C2 và Nguyễn Tiến V; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 02 vỏ túi nilon, 14 mảnh giấy bạc (sau giám định); 01 chiếc găng tay bằng vải của bị cáo Lương Văn D
- + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước của bị cáo D 01 điện thoại di động và số tiền 400.000 đồng.
- + Trả lại cho bị cáo D số tiền 380.000 đồng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, những người làm chứng đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
[3] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận:
Khoảng hơn 07 giờ ngày 29-02-2024, tại nhà trọ của mình ở thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái Lương Văn D đã có hành vi mua bán trái phép 02 gói ma túy cho Nguyễn Văn C2 được số tiền 400.000 đồng. Ngoài ra, D còn tàng trữ 14 gói ma túy, loại heroine có tổng khối lượng là 0,98 gam với mục đích để sử dụng và bán. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với bị cáo Lương Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, đây là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác. Tệ nạn ma túy được xác định là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Hiện nay, loại tội phạm này xảy ra rất phổ biến gây nhiều bức xúc trong nhân dân nên việc đưa bị cáo ra xét xử lưu động nhằm tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về tác hại của ma túy, sự nguy hiểm của hành vi phạm tội về ma túy là rất cần thiết.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Động cơ, mục đích của bị cáo là vụ lợi và nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lương Văn D không có tiền án, có 01 tiền sự chưa được xóa. Năm 2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Đến ngày 21-9-2022, bị cáo chấp hành xong quyết định.
Từ năm 1994 đến năm 2013, bị cáo đã 02 lần bị xử phạt tù, 04 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi xâm phạm sở hữu; mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy và 01 lần bị đưa vào Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Y để cai nghiện bắt buộc. Các lần trên tuy đều đã được xóa án tích và xóa tiền sự nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lương Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lương Văn D là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình và không có tài sản gì. Vì vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về các hành vi, và người liên quan khác:
- - Đối với Nguyễn Văn C2 và Nguyễn Tiến V quá trình điều tra xác định: Ngày 29-02-2024, C2 và V đã cùng nhau góp mỗi người 200.000 đồng và cùng đi mua heroine để sử dụng. C2 là người cầm tiền mua heroine của D Sau khi mua được heroine, C2 và V chia nhau để tự sử dụng hết cho bản thân. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn C2 và Nguyễn Tiến V không cấu thành tội phạm. Ngày 20-3-2024, Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 47/QĐXPHC-ĐCSMT và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐXPHC-ĐCSMT đối với Nguyễn Văn C 2và Nguyễn Tiến V về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đồng thời thông báo về chính quyền địa phương nơi cư trú biết để quản lý, giáo dục là phù hợp.
- - Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Lương Văn D vào ngày 27-02-2024 ở ven đường bờ sông H thuộc khu dân cư sau chợ thành phố Y (thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái: Do D không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người phụ nữ đã bán ma túy cho mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không có cơ sở để xác minh, xử lý.
- - Đối với Lê Thị H1 quá trình điều tra xác định: H1 có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng với Lương Văn D ở nhà trọ D thuê tại thôn X, xã G, thành phố Y Khi Lương Văn D thực hiện hành vi phạm tội thì H1 không biết, không liên quan. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với Lê Thị H1 là phù hợp.
[8] Về vật chứng:
- - Đối với số ma túy còn lại sau giám định là 0,7 gam ma túy loại heroine được niêm phong trong 01 phong bì; 02 xilanh nhựa loại 3ml/cc, 02 vỏ túi nilon đựng xilanh, 02 vỏ ống nước cất NOVOCAIN, 02 mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn C2 Nguyễn Tiến V; 01 chiếc găng tay bằng vải màu xanh, đen; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 02 vỏ túi nilon màu trắng và 14 mảnh giấy bạc. Xét có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với chiếc điện thoại điện thoại di động màu đen, kiểu phím bấm, có chữ Masstel, máy đã qua sử dụng. có số IMEI1: 352766243963931, lắp sim có số thuê bao: 0376.516.551 tạm giữ của Lương Văn D: Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo không đề nghị nhận lại chiếc điện thoại trên nên tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 780.000 đồng tạm giữ của bị cáo Lương Văn D được niêm phong trong phong bì thư do Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y phát hành: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn D khai nhận có 400.000 đồng là tiền bị cáo có được do bán ma túy cho Nguyễn Văn C2 vào ngày 29-02-2024, xét là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước. Số tiền 380.000 đồng còn lại là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn D 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29-02-2024.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 0,7 gam ma túy loại heroine thu giữ của bị cáo Lương Văn D được niêm phong trong 01 phong bì do phòng K - Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có khi “Vật chứng thu giữ của Lương Văn D tại Xóm S, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 29/02/2024 (sau khi trích mẫu giám định)”; Mặt sau phong bì các mép được dán kín và có họ tên, chữ ký của Ngô Thùy D1, Lương Văn D, Hà Đình B, Trương Xuân N, Trần Nhật T và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của phòng K- Công an tỉnh Y; 02 (hai) xilanh nhựa loại 3ml/cc; 02 (hai) vỏ túi nilon đựng xilanh; 02 (hai) vỏ ống nước cất NOVOCAIN; 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng (thu giữ của Nguyễn Văn C2, Nguyễn Tiến V); 01 (một) chiếc găng tay bằng vải màu xanh, đen có chữ "B" màu trắng; 03 (ba) vỏ phong bì đã mở niêm phong; 02 (hai) vỏ túi nilon màu trắng; 14 (mười bốn) mảnh giấy bạc.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Lương Văn D: 01 (một) điện thoại di động màu đen, kiểu phím bấm, có chữ Masstel, máy đã qua sử dụng, có số IMEI1: 352766243963931, lắp sim có số thuê bao: 0376.516.551 và số tiền 400.000 đồng.
- - Trả lại cho bị cáo Lương Văn D: Số tiền 380.000 đồng.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16-5-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lương Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo Lương Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Kim Anh |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn D 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29-02-2024.
