|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: /2024/HS-ST Ngày 12 – 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phi Hùng
Ông Hồ Quốc Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị T1; anh chị em ruột: có 04 người; vợ, con: Chưa có; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 04/01/2024 bị Công an xã T, huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt xong 04/01/2024, chưa được xóa tiền sự; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/6/2024 chuyển tạm giam ngày 18/6/2024 cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, Tổ tuần tra Công an huyện T tuần tra trên tuyến đường hành lang ven biển phía Nam (lộ X) đến đoạn lộ thuộc ấp L, xã T, huyện T thì phát hiện Nguyễn Văn T đang một mình điều khiển xe mô tô biển số 59S1-902.33 đi từ hướng thị trấn T về hướng xã T có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng tuần tra tiến hành dừng phương tiện kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn T cất giấu ma túy bên trong gói thuốc nhãn hiệu Jet được để trong túi quần của T đang mặc. Vật chứng tạm giữ gồm 01 xe mô tô biển số 59S1-902.33 nhãn hiệu Suzuki, đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân tên Nguyễn Văn T, 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet màu trắng, bên trong gói thuốc có 02 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” và “50”, bên trong 02 túi nilon có chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 318/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 1929471 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 9,9549 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50” được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 1929471 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 4,9105 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng Methamphetamine bên trong 02 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” và “50” là 14,8654 gam.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi của mình như nội dung của cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số 318/KL-KTHS ngày 15/6/2024, được niêm phong (bên trong gồm có 7,6684 gam tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” sau khi trích giám định và không lưu; 3,8381 gam tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50” sau khi trích giám định và không lưu; túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 1929471; túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” dùng để chứa tinh thể màu trắng, túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50” dùng để chứa tinh thể màu trắng), 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet đã qua sử dụng. Xét thấy vật chứng này là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 59S1-902.33 (số khung, số máy không còn nguyên thủy) do bị cáo T là người quản lý hợp pháp. Xét thấy vật chứng này là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, kính xin Hội đồng xem xét cho bị cáo mức án nhẹ sớm được về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, Kiểm sát viên từ khi khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tế, quá trình này bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- [2] Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, tại ấp L, xã T, huyện T, lực lượng Công an tuần tra dừng phương tiện mô tô biển số 59S1-902.33 do bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển, tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần T đang mặc có 01 gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong gói thuốc có 02 túi nilon màu trắng chứa ma túy. Lực lượng làm nhiệm vụ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật có tổng khối lượng là 14,8654 gam, loại Methamphetamine đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn T là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, gây tác hại lớn đến sức khỏe, nhân cách và sự phát triển bình thường của con người, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người trưởng thành có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy cũng như những quy định của Nhà nước cấm nghiêm khắc đối với tất cả các hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy, trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Song với ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Nhằm đấu tranh phòng chống và đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội, cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để bị cáo có thời gian nhận thức, sửa chữa lỗi lầm để trở thành người ích cho gia đình và xã hội.
- [4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có ông N là thương binh, cha ruột bị bệnh nhiễm chất độc da cam được hưỡng trợ cấp hàng tháng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo lại có 01 tiền sự vào ngày 04/01/2024 bị Công an xã T, huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt nhưng chưa được xóa. Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
- [5] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo T. Do bị cáo T không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xác minh để xử lý là phù hợp.
- [6] Xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số 318/KL-KTHS ngày 15/6/2024, được niêm phong (bên trong gồm có 7,6684 gam tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100”, sau khi trích giám định và không lưu; 3,8381 gam tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50”, sau khi trích giám định và không lưu; túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 1929471; túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” dùng để chứa tinh thể màu trắng, túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50” dùng để chứa tinh thể màu trắng), 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet, tình trạng đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy vật chứng này là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng nên bị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 59S1-902.33 (số khung, số máy không còn nguyên thủy) nhưng do bị cáo T là người quản lý hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy vật chứng này là phương tiện bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 căn cước công dân tên Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo T là phù hợp.
- [7] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 09/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 318/KL-KTHS ngày 15/6/2024, được niêm phong (bên trong gồm có 7,6684 gam tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100”, sau khi trích giám định và không lưu; 3,8381 gam tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50”, sau khi trích giám định và không lưu; túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 1929471; túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “100” dùng để chứa tinh thể màu trắng, túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên ngoài có ghi số “50” dùng để chứa tinh thể màu trắng), 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet, tình trạng đã qua sử dụng.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 59S1-902.33 (số khung, số máy không còn nguyên thủy).
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình).
- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: truy tố Nguyễn Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
