|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Trường
Ông Đào Việt Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thùy Chung - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Dương Văn L (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 25 tháng 8 năm 1993 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở: Thôn T, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn H (đã chết) và bà Lý Thị T, sinh năm 1974; Bị cáo có vợ là Lý Thị T1, sinh năm 1983, chưa có con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01; Ngày 09/12/2022, Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC. Đến nay chưa nộp phạt.
Nhân thân:
- - Ngày 17/5/2016, bị Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ-XPVPHC. Chấp hành xong ngày 17/5/2016.
- - Ngày 15/01/2020, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HS-ST. Chấp hành xong bản án ngày 17/8/2020.
- - Ngày 17/4/2023, Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC. Chấp hành xong ngày 04/5/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N (Có mặt).
-
Nông Văn D (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 24/01/1987 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn T2, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị D1, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2018/HSST, ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lý Viết C, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do và bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do - Cùng có địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 15 phút ngày 23/7/2024, tại khu vực đường liên xã N-M thuộc tổ dân phố (TDP) Bản Hùa, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác công an thị trấn N phối hợp với Công an xã H phát hiện Dương Văn L và Nông Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy (heroine) được gói bằng 07 (bảy) lớp nilon trong đó 04 (bốn) lớp nilon ngoài cùng màu xanh, lớp thứ 5 là lớp nilon trong suốt, lớp thứ 6 là lớp nilon màu xanh, lớp thứ 7 là lớp nilon màu hồng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A1), mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn thu giữ của Dương Văn L: 01 (một) xi lanh đã qua sử dụng (niêm phong trong phong bì ký hiệu L1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, đã qua sử dụng (niêm phong trong phong bì ký hiệu L2); 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển số đăng ký 97B1-43036 cùng chìa khóa xe. Thu giữ của Nông Văn D: 02 xi lanh đã qua sử dụng (niêm phong trong phong bì ký hiệu D1 và D3); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, đã qua sử dụng (niêm phong trong phong bì ký hiệu D2).
Hồi 23 giờ ngày 23/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành mở niêm phong, cân xác định số chất bột màu trắng dạng cục và bột thu giữ được của Dương Văn L và Nông Văn D trong phong bì ký hiệu A1, xác định khối lượng là 1,40g (một phẩy bốn không gam), sau đó tiến hành niêm phong lại toàn bộ số ma túy trong phong bì ký hiệu B1 để gửi trưng cầu giám định.
Hồi 16 giờ và 17 giờ ngày 24/7/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực liên quan của Dương Văn L và Nông Văn D, qua khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Bản kết luận giám định số 261/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 1,40g (Một phẩy bốn không gam).
Quá trình điều tra Dương Văn L và Nông Văn D đều khai nhận: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 23/7/2024, L điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 97B1-43036 đi trên đường thì gặp D, do cùng là người nghiện ma túy nên L và D đã rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng. L điều khiển xe mô tô chở D đi từ xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đi đến địa phận thị trấn N, huyện N, hai người có bàn với nhau góp tiền để đi mua ma túy, L đưa cho D số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) và nói với D trong đó có 300.000, đồng là tiền L trả nợ cho D. Sau khi đi đến xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, L tiếp tục điều khiển xe rẽ vào đường liên xã B-T được khoảng 01km thì dừng lại. Sau đó L đi vệ sinh còn D gặp một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ) và hỏi mua được 01 (một) gói ma túy, được gói bằng 01 (một) lớp nilon màu hồng với số tiền 1.000.000đ. Sau khi mua được ma túy, D dùng túi nilon gói lại thêm 06 (sáu) lớp rồi cầm trong lòng bàn tay phải rồi cùng L tiếp tục điều khiển xe mô tô chở D đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường liên xã N-M thuộc tổ dân phố B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì gặp Tổ công tác công an thị trấn N phối hợp với Công an xã H phát hiện. Do hoảng sợ nên D đã thả gói ma túy đang cầm trong tay xuống đường, cách vị trí L và D khoảng 03 mét.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSNS, ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố các bị cáo Dương Văn L và Nông Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Dương Văn L và Nông Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý các bị cáo như sau:
- * Về trách nhiệm hình sự:
- - Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Dương Văn L từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nông Văn D từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng
- * Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, mảnh nilon gói cũ, phong bì niêm phong, phong bì niêm phong đã cũ, xi lanh, T167, B2, L1, D3, D1; Trả lại cho ông Lý Viết C và bà Hoàng Thị T3 01 xe môtô; Trả lại cho bị cáo Nông Văn D 01 điện thoại di động; Trả lại cho bị cáo Dương Văn L 01 điện thoại di động.
- * Về án phí: Đề miễn án phí cho các bị cáo.
Các bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo
Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Văn L và Nông Văn D khai nhận: Do nghiện ma túy, với mục đích sử dụng cho bản thân nên ngày 23/7/2024, các bị cáo rủ nhau cùng đi mua ma túy. Liêm lái xe môtô chở theo D và đưa cho D số tiền 1.000.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng là tiền của D góp) để D trực tiếp đứng ra giao dịch mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, các bị cáo chưa kịp sử dụng mà bị cáo D cất giấu ma túy trong lòng bàn tay phải rồi cùng L đi xe mô tô quay về đã bị tổ công tác công an thị trấn N phối hợp với Công an xã H phát hiện lập biên bản sự việc, tiến hành thu giữ 01 (một) gói ma túy (Heroine) có khối lượng 1,40 gam (Một phấy bốn không gam) và toàn bộ tang vật. 03 chiếc xi lanh bị tạm giữ là của các bị cáo (01 chiếc của bị cáo L; 02 chiếc của bị cáo D), mỗi bị cáo tự mình dùng để sử dụng ma túy từng lần riêng biệt trước ngày 23/7/2024. Mục đích các bị cáo cầm theo để tiếp tục sử dụng ma túy mua được ngày 23/7/2024 nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tạm giữ.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc lập hồi 14 giờ 00 phút, ngày 23/7/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 23/7/2024; Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản mở đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 23/7/2024; phù hợp với Kết luận giám định số 261/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Dương Văn L và Nông Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
-
Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
[3] Trong vụ án này, các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng chung ý chí, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng; Bị cáo L đưa tiền mua ma túy (trong đó có tiền bị cáo L nợ bị cáo D từ trước), điều khiển xe môtô chở theo bị cáo D đi mua ma túy; Bị cáo D là người trực tiếp đứng ra giao dịch để mua ma túy, trực tiếp quản lý, cất giữ số ma túy mua được trên người. Vì vậy, các bị cáo đều giữ vai trò tích cực ngang nhau trong việc tàng trữ trái phép 1,40g ma túy (Heroine).
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển Kinh tế - Xã hội của Nhà nước, ảnh hưởng đến sức khỏe, gia đình, hơn nữa ma túy cũng là mầm mống, nguyên nhân phát sinh một số tội phạm khác. Do vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố các bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Bị cáo Dương Văn L có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị xử phạt tù cùng về hành vi trộm cắp tài sản. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân và xem thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm minh.
Bị cáo Nông Văn D không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại phạm tội.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với bị cáo Dương Văn L có bác ruột là ông Dương Văn M là liệt sĩ, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, hội đồng xét xử xem xét đến đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của các bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét các bị cáo đều có nhân thân xấu. Tuy nhiên, bị cáo L nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt tù, đang có tiền sự chưa được xóa, nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân và xem thường pháp luật. Do vậy, cần xem xét xử lý mức hình phạt với bị cáo Dương Văn L cao hơn bị cáo Nông Văn D. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án
Các vật chứng là số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, xilanh, mảnh nilon gói cũ, phong bì niêm phong, phong bì niêm phong cũ, túi nilon có trong các phong bì niêm phong ký hiệu L1, D3, B2, D1, T167 xét là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại có trong phong bì niêm phong ký hiệu D2 là điện thoại của bị cáo Nông Văn D không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. 01 điện thoại có trong phong bì niêm phong ký hiệu L2 là điện thoại của bị cáo Dương Văn L không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
01 xe môtô bị tạm giữ là tài sản của ông Lý Viết C và bà Hoàng Thị T3, khi các bị cáo sử dụng xe để đi mua và tàng trữ ma túy ông C, bà T3 không biết. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, ông C, bà T3 có đề nghị được trả lại chiếc xe. Do đó, cần trả lại chiếc xe môtô cho ông C, bà T3.
[7] Các vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi của từng bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy độc lập trước ngày 23/7/2024 các bị cáo đã sử dụng hết số ma túy, không xác định được người bán, không thu giữ được tang vật nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý các hành vi trên là có căn cứ.
Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo D là người đã bán ma túy (Heroine) cho bị cáo Diện ngày 23/7/2024, quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ người đàn ông này, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Do vậy, các bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Dương Văn L và Nông Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Dương Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 23/7/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nông Văn D 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 23/7/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
-
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L1.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu D3.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu D1.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T167.
- Trả lại cho bị cáo Nông Văn D 01 điện thoại di động có trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu D2.
- Trả lại cho bị cáo Dương Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA có trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu L2.
-
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Viết C, sinh năm 1978 và bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1981 - Cùng có địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave S, BKS 97B1-430.36, màu vàng đen; số khung RLHJC5267DY091379, số máy JC52E-1278430.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
-
Tịch thu tiêu hủy:
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
