TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 11-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lan.
- Bà Nguyễn Thị Mý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS, ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS, ngày 24/10/2024 đối với bị cáo:
Thái Hữu T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1983 tại tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 14/6/2023 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thái Hữu T1, sinh năm 1956 và bà Phan Thị T2, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là Cấn Thị L, sinh năm 1978, có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 21/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 07/2017/HS-ST, ngày 21/02/2017. Bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Thái Hữu T: Luật sư Thái Quốc T3 và luật sư Đặng Ngọc B – Thuộc Văn phòng L3; địa chỉ: Số A đường Q, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ông Thái Quốc T3 và ông Đặng Ngọc B có mặt
- Bị hại: Nguyễn Thanh T4, sinh năm 2005; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người làm chứng:
- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1977; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bà Cấn Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1983; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Ông Lê Tấn H, sinh năm 2003; địa chỉ: Số A Đ, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt
- Ông Trần Quang B1, sinh năm 2004; địa chỉ: Đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
- Ông Cao T6, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 07/12/2023 trên đường đi uống rượu về thì Nguyễn Thanh T4 có xảy ra mâu thuẫn với một người thanh niên chưa rõ nhân thân, lai lịch nên T4 đã nhặt một cành cây cà phê dài khoảng 50cm rồi đi tìm người thanh niên này. Khi T4 đi ngang qua nhà anh Thái Hữu T tại làng B, xã I, huyện I thì T4 có gặp vợ của anh T là chị Cấn Thị L đang đứng trước nhà thì T4 có đứng lại nói chuyện qua lại với chị L, khi cả hai đang nói chuyện thì anh T đi về và giữa T4 với anh T phát sinh mâu thuẫn cãi nhau qua lại, lúc này bất ngờ T4 dùng cây cà phê đang cầm sẵn trong tay và vụt mạnh về phía bị cáo Thiên trúng phần mắt trái của T. Bị T4 đánh bất ngờ nên bị cáo T lao vào dùng tay đấm vào vùng đầu và mặt của T4 rồi giằng lấy cây cà phê T4 đang cầm và vụt một cái vào phần đầu của T4. Sau đó hai người lao vào giằng co đánh nhau, cành cây cà phê bị rớt bên đường. Cả hai giằng co nhau vào đến sân nhà bị cáo T rồi vật nhau tại sân nhà bị cáo T, Thiên ngồi lên người T4 rồi dùng tay đấm vào mặt và người của T4. Lúc này bà Trần Thị L1 là mẹ của T4 có chạy đến can ngăn thì bị thương tích tại vùng trán. Bị cáo T và T4 được mọi người can ngăn thì ngừng đánh nhau và đi về.
2
*Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 37/KLTTCT-TTPY ngày 24/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G đối với thương tích của anh Nguyễn Thanh T4:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh thái dương phải: 2%
- 01 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh: 1%
- Chấn thương sọ não gây lún bản ngoài xương sọ vùng đỉnh phải kích thước (5,2x2,1) cm, điện não không ổ tổn thương tương ứng: 13%
- Chấn thương sọ não gây dập não xuất huyết vùng đỉnh phải, không phải mổ, tại thời điểm giám định không còn hình ảnh trên phim CT-S: 5%
- Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh phải, tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tụ máu trên phim CT-S: 8%
- Chấn thương sọ não gây xuất huyết dưới nhện liềm não sau, tại thời điểm giám định không còn hình ảnh trên phim CT-S: 8%
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 32%.
- Kết luận khác:
- + Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.
- + Xác định vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật tày cứng.
* Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 36/KLTTCT-TTPY ngày 20/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G đối với thương tích của bà Trần Thị L1:
- Các kết quả chính:
- 01 (một) sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trán phải trên chân tóc: 1%
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 1%.
- Kết luận khác:
- + Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.
- + Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật tày.
* Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 576/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đối với thương tích của anh Thái Hữu T:
- Kết quả chính:
Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, khám chuyên khoa, kết quả cận lâm sàng xác định Thái Hữu T có tổn thương: mắt trái sây sát da mi, chấn thương đụng dập nhãn cầu, dị vật kết mạc trên người có tiền sử sẹo giác mạc mắt phải, bong biểu mô sắc tố võng mạc trung tâm hai mắt, đã được điều trị. Hiện tại mi mắt và bán phần trước mắt trái không có dấu vết thương tích, thị lực mắt trái không bị ảnh hưởng do chấn thương:
- Mắt phải: Thị lực không kính ĐNT 1m; thử kính không tăng.
- Mắt trái: Thị lực không kính 7/10; thử kính plano 9/10.
3
- Kết luận:
2.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 0%.
2.2. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương phần mềm: Sây sát da vùng má trái, mi mắt trái, sưng nề bầm tím vùng mặt bên trái của Thái Hữu T do vật tày gây nên.
Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS, ngày 23 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Thái Hữu T về tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Thái Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng “.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 136 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Thái Hữu T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng cộng số tiền 23.271.317 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo ông Thái Quốc T3 và ông Đặng Ngọc B đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ kết luận giám định tỷ lệ thương tật của bị hại vì lời khai bị hại, người làm chứng mâu thuẫn; Cần cho bị cáo đối chất với với những người làm chứng Lê Tân H1, Trần Quang B1 và Cao T6; cần giám định lại thương tích về mắt mà bị hại gây ra cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh T4 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 32%. Bị cáo và luật sư bào chữa yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ kết luận giám định tỷ lệ thương tật của bị hại vì lời khai bị hại, người làm chứng mâu thuẫn; Cần cho bị cáo đối chất với với
4
những người làm chứng Lê Tân H1, Trần Quang B1 và Cao T6; cần giám định lại thương tích về mắt mà bị hại gây ra cho bị cáo.
Xét đối với kết luận giám định pháp y về thương tích 37/KLTTCT-TTPY ngày 24/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G của bị hại trong lời khai của bị hại và những người làm chứng có mâu thuẫn thì những người làm chứng quá trình điều tra đã làm rõ được những người làm chứng ông Lê Tấn H, ông Trần Quang B1, ông Cao T6 đều trình bày không hề quen biết với bị cáo Thái Hữu T. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho nhận dạng thì những người làm chứng đều chỉ đúng người đánh anh Nguyễn Thanh T4 là bị cáo Thái Hữu T. Hơn nữa, người làm chứng Nguyễn Hoài B2 là người gặp trực tiếp bị hại lúc đang cởi trần và tay đang cầm khúc cây, ông B2 đã khuyên bị hại không gây rối. Ông B2 không có lời khai nào thể hiện thấy bị hại có vết thương chảy máu nào lúc gặp. Không có lời khai người làm chứng nào có lời khai về bị hại Nguyễn Thanh T4 đã bị đánh chảy máu trước khi xảy ra mâu thuẫn với bị cáo T. Hồ sơ bệnh án giai đoạn đầu của bị hại Nguyễn Thanh T4 nhập viện lúc 21 giờ ngày 07/12/2023 là phù hợp với những diễn biến vụ án đã được làm rõ.
Đối với yêu cầu cần triệu tập những người làm chứng ông Lê Tấn H, ông Trần Quang B1, ông Cao T6 để tiến hành đối chất của bị cáo là không cần thiết, những người làm chứng đã có bản tự khai, biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án nên không ảnh hưởng đến việc đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với yêu cầu giám định lại tỷ lệ tổn thương mắt do bị hại Nguyễn Thanh T4 gây ra đối với bị cáo thì xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành giám định tỷ lệ và có Kết luận: Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 576/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đối với thương tích của anh Thái Hữu T: “mắt trái sây sát da mi, chấn thương đụng dập nhãn cầu, dị vật kết mạc trên người có tiền sử sẹo giác mạc mắt phải, bong biểu mô sắc tố võng mạc trung tâm hai mắt, đã được điều trị. Hiện tại mi mắt và bán phần trước mắt trái không có dấu vết thương tích, thị lực mắt trái không bị ảnh hưởng do chấn thương:
Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 0%.
Do đó yêu cầu của bị cáo và các luật sư bào chữa cho bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ kết quả điều tra, tài liệu, chứng cứ thu thập được cùng với lời khai của bị hại, người làm chứng và kết luận giám định tổn thương cơ thể của Trung tâm Pháp y tỉnh G, có đủ cơ sở xác định: Vào tối ngày 07/12/2023 sau khi Nguyễn Thanh T4 đi uống rượu về đến trước nhà Thái Hữu T thì có gặp T, cả hai có cãi nhau qua lại thì bất ngờ T4 cầm khúc cây cà phê và vụt thẳng vào người T trúng vùng mắt bên trái của T, lúc này để bảo vệ bản thân không bị T4 dùng cây đánh trúng người nữa thì T đã dùng tay đấm hai cái vào người T4 rồi giằng lấy
5
khúc cây cà phê đập một cái trúng vùng sau đầu của T4 và gây thương tích cho T4 là 32% là quá mức cần thiết và không tương xứng với hành vi phòng vệ của bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Thái Hữu T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được việc mình làm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do đó việc truy tố bị cáo Thái Hữu T về tội Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn chính đáng quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Thái Hữu T có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 21/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 07/2017/HS-ST. Bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Đối với bà Trần Thị L1: Quá trình điều tra xác định khi giữa Thái Hữu T và Nguyễn Thanh T4 đang giằng co đánh nhau thì bà Trần Thị L1 có lao vào can ngăn thì bị thương tích 1% tại vùng trán phải, đối với thương tích này thì bà L1 đã có đơn đề nghị không khởi tố và không có yêu cầu gì về thương tích. Tuy nhiên, ngày 03/11/2024 bà L1 có Đơn yêu cầu giải quyết phần thương tích 1% mà bị cáo T gây ra cho bà gồm chi phí bồi dưỡng sức khỏe số tiền 692.300 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 11.700.000 đồng. Yêu cầu này là không có cơ sở bởi lẽ bà L1 quá trình tố tụng và tại phiên tòa không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì cho yêu cầu của mình. Trường hợp bà có yêu cầu bồi thường về dân sự sẽ được giải quyết trong vụ án dân sự khác.
[7] Đối yêu cầu xử lý việc Nguyễn Thanh T4 dùng cây cà phê vụt vào mắt trái của Thái Hữu T thì thương tích được giám định là 0%. Do đó hành vi của anh Nguyễn Thanh T4 không phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra Quyết định không khởi tố và chuyển xử phạt hành chính đối với T4. Bị cáo có cung cấp quá trình khám chữa bệnh về mắt của Bệnh viện mắt thành phố H chuẩn
6
đoán: Mắt phải sẹo giác mạc; mắt trái bệnh lý võng mạc và bệnh viện M tại thành phố P, tỉnh Gia Lai chuẩn đoán: Viêm giác mạc- chấm nông/ Thoái hóa võng mạc/ bệnh lý khác về tuyến lệ. Vậy mắt trái của bị cáo T là bị bệnh lý võng mạc chứ không phải do thương tích của anh T4 gây ra. Do đó, yêu cầu của bị cáo Thái Hữu T là không có cơ sở chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Thanh T4 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tổng cộng số tiền 66.066.800 đồng, bao gồm chi phí điều trị, tiền bồi dưỡng và phục hồi sức khỏe, tiền tổn thất tinh thần, tiền xe đi lại, ngày công lao động của bị hại, người chăm sóc.
Xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của anh T4 có cơ sở, tuy nhiên xét thấy bị hại cũng có một phần lỗi nên các khoản chưa phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét chấp nhận các khoản sau:
- Chi phí điều trị, đơn thuốc có hóa đơn hợp lệ tính từ ngày 07/12/2023 đến ngày 22/12/2023, số tiền sau khi quỹ bảo hiểm y tế thanh toán còn lại: 917.317 đồng + 4.404.000 đồng = 5.321.317 đồng.
- Tiền xe cấp cứu: 400.000 đồng
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án (Nghị định 38/2022/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng năm 2023. Vùng III: L2 tối thiểu theo tháng là 3.640.000 đồng, lương tối thiểu theo giờ là 17.500 đồng. Áp dụng đối với: Thành phố P), cụ thể: 140.000 x 15 ngày = 2.100.000 đồng
- Thu nhập thực tế bị mất của bị hại kể từ ngày bị thương đến khi điều trị bệnh ổn định, từ ngày 07/12/2023 đến ngày 22/12/2023 là 15 ngày. Do bị hại không cung cấp được thu nhập bình quân lao động cùng loại tại địa phương nên xác định ngày lương tối thiểu vùng được xác định 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày, cụ thể: 3.250.000 đồng / 26 ngày x 15 ngày = 1.875.000 đồng;
- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị (từ ngày 07/12/2023 đến ngày 22/12/2023) là 15 ngày. Do người chăm sóc không cung cấp được thu nhập bình quân lao động cùng loại tại địa phương nên xác định ngày lương tối thiểu vùng được xác định 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày (Nghị định 38/2022/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng năm 2023. Vùng IV: L2 tối thiểu theo tháng là 3.250.000 đồng, lương tối thiểu theo giờ là 15.600 đồng. Áp dụng đối với: Các thị xã A, A; các huyện C, C, Chư S, Đ, Chư P, P, Mang Y, K, Kông C, K, I, Ia G, Đ, Đ). Cụ thể: 3.250.000 đồng / 26 ngày x 15 = 1.875.000 đồng.
- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần tương ứng là 5 tháng lương cơ bản x 2.340.000 đồng = số tiền 11.700.000 đồng.
Tổng cộng các khoản có cơ sở, được chấp nhận số tiền 23.271.317 đồng.
7
Còn yêu cầu của bị hại không có cơ sở nên không được chấp nhận số tiền tổng cộng 42.795.483 đồng.
[9] Về vật chứng vụ án: Đối với cành cây cà phê mà T4 dùng để đánh T và bị Thiên giằng lại rồi đánh vào phần đầu của T4 thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra Quyết định truy tìm vật nhưng không tìm thấy.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị hại phải chịu án phí đối với yêu cầu bồi thường không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thái Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 136 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Thái Hữu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.
3. Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 và 594 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Thái Hữu T phải bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T4 số tiền 23.271.317 đồng (Hai mươi ba triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm mười bảy đồng).
Không chấp nhận khoản tiền người bị hại Nguyễn Thanh T4 yêu cầu bị cáo Thái Hữu T phải bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng 42.795.483 đồng (Bốn mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn, bốn trăm tám ba đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
8
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, e khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,
Buộc bị cáo Thái Hữu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.163.566 đồng (Một triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc ông Nguyễn Thanh T4 phải chịu số tiền án phí đối với số tiền không được chấp nhận (số tiền 42.849.483 đồng), số tiền 2.139.774 đồng (Hai triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, bảy trăm bảy mươi bốn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án hình sự.
5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/11/2024) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hà |
9
10
11
12
13
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TP. Hà
