Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 25-10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Hoàng Bo

Ông Nguyễn Văn Hiển

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Văn T, sinh ngày 26/01/2007, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp CT, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Mai Thanh T và bà Nguyễn Bé B; vợ, con: Không; anh, chị em ruột: 01 người; tiền án: Không. Ngày 29.12.2023, Tòa án nhân dân huyện BL, tỉnh Long An đưa ra xét xử đối với bị cáo Mai Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự, tuyên phạt 09 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 29.6.2024; tiền sự: Không. Ngày 16.4.2021 bị Công an xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 05.10.2022 bị Công an thành phố MT, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị bắt tạm giam từ ngày 19/8/2024 cho đến nay (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

  1. Bà Nguyễn Bé B, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp CT, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Ông Mai Thanh T, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp CT, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Hoàng H, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Lê Ý N, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp MB, xã PĐ, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 2002; địa chỉ: Ấp TM, xã PM, huyện PT, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 2002; địa chỉ: Khóm D, phường C, thành phố CM, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/8/2024, Mai Văn T đến ấp TĐ, xã TĐ, huyện ĐD để làm thuê canh giữ bãi nuôi sò huyết cho Nguyễn Văn L và Mai Văn P. Ngày 15/8/2024, L thuê Nguyễn Hoàng D và Lê Ý N đến xúc sò giống để bán. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, D và N để điện thoại và ví tiền trong chòi để xuống sông xúc sò huyết. Lúc này, T ở một mình trong chòi, nên nãy sinh ý định lấy trộm điện thoại bán để có tiền tiêu xài. T đi đến vị trí để điện thoại lấy 01 điện thoại hiệu Iphone 15Plus của D và 01 điện thoại thoại hiệu Oppo A15S của N. T tiếp tục lục trong túi quần của N để mở ví tiền lấy 248.000 đồng. Sau đó, T lén lúc đi ra khỏi chòi và thuê xe ô tô đi đến thành phố CM, tỉnh Cà Mau. Khi đi đến thành phố CM, T kêu Lê Văn T là người điều khiển phương tiện xe ô tô ghé vào cửa hàng điện thoại TP ở khóm D, phường C, thành phố CM bán 01 điện thoại hiệu Oppo A15S với giá 250.000 đồng. T tiếp tục kêu T điều khiển phương tiện ghé vào cửa hàng điện thoại TOPPO ở khóm G, phường B, thành phố CM để bán điện thoại Iphone 15Plus. Trong lúc kiểm tra điện thoại thì T bị Công an phường 7, thành phố CM đến mời làm việc.

Bản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-ĐGTS ngày 19/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đầm Dơi kết luận như sau:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15Plus QT128Gb, đưa vào sử dụng ngày 10/6/2024, thành tiền 15.666.667 đồng.
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15S, đưa vào sử dụng tháng 7/2023 thành tiền 1.400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 17.066.667 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại thoại di động hiệu OPPO A15S màu xanh và 248.000 đồng, đã trả lại cho Lê Ý Nguyện.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15Plus QT màu trắng bạc, đã trả lại cho Nguyễn Hoàng Duy.
  • Tiền 250.000 đồng đã trả lại cho Nguyễn Hữu T.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường.

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Ông Mai Thanh T yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Trần Hoàng H trình bày: Ông thống nhất tội danh Viện kiểm sát đã truy tố, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo T từ 09 tháng tù đến 01 năm tù. Vật chứng đã trả lại cho bị hại và anh T nên không xem xét. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời trình bày của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ ngày 15/8/2024, tại chòi vuông của ông L và ông P tọa lạc ấp TĐ, xã TĐ, huyện ĐD, bị cáo T đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại hiệu Iphone 15Plus của anh D, 01 điện thoại thoại hiệu Oppo A15S và 248.000 đồng của anh N. Tổng giá trị 17.314.667 đồng.

Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng,...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Do đó, Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại để thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Trước, trong và sau khi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân không tốt, cụ thể: Ngày 29/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện BL, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 16/4/2021 bị cáo bị Công an xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 05/10/2022 bị cáo bị Công an thành phố MT, tỉnh Tiền Giang xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

Từ những nhận định trên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã trả lại cho bị hại và anh T phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Mai Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 8 năm 2024.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Mai Văn Tình phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ông T và ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà B, bị hại và anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi;
  • - Cơ quan THAHS công an huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Quốc Trạng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố về tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger